Bình yên trên đất Cù Lao

Người xưa nói rằng Bình Dương là vùng đất Tứ Linh với Long – Lân – Quy – Phụng. Con sông Đồng Nai là con rồng lớn uốn lượn, mà đầu rồng là núi Bửu Long, đuôi rồng là núi Châu Thới. Ở ngay bên cạnh đầu rồng Bửu Long, dòng sông Đồng Nai chẻ làm 2 nhánh ôm lấy một cù lao, đó chính là cù lao Rùa, hay còn gọi là Cồn Quy.

Cù lao Rùa, nơi vẫn giữ được vẻ đẹp hiền hòa và nhuốm chút hoang sơ còn được gọi là Cù lao Thạnh Hội vì nó là nơi sinh sống của nhân dân làng Thạnh Hội. Nhưng đa số người dân đều nhắc đến nó với cái tên Cù lao Rùa. Hòa vào cùng thiên nhiên, cư dân xưa ở Cù Lao Rùa đã đặt nền móng cho những nơi thờ phượng linh thiêng trên mình Rùa như:

– Miếu Bà Ấp Nhựt Thạnh nằm trên một triền dốc thoai thoải ở phần đầu Rùa. Là nơi yên tĩnh, linh thiêng để thờ các vị thần thánh.

– Đình Nhựt Thạnh nằm ở phần thon nhất, phần cổ Rùa. Đình là nơi thờ các vị tướng có công với đất nước và cũng là nơi hội họp của người dân.

– Ngôi chùa cổ Khánh Sơn nằm trên vùng đất cao nhất của Cù Lao Rùa là Gò Rùa, cũng chính là hình chiếc mu rùa. Đặc biệt khu di tích lịch sử văn hóa được khai quật vào cuối thế kỉ XX được đặt ngay trên đất chùa cổ Khánh Sơn.

cu-lao-rua

Người ta vẫn tưởng Cù lao này ngày xưa có nhiều rùa, nhưng thực ra là có rất nhiều con Quy nơi Cù Lao này. Con Quy khác con rùa ở chỗ trên mai nó có chữ Nhơn. Không ai ăn thịt con quy hết, thấy nó mắc kẹt vào khe đá là người ta cứu sống.

Miếu Bà Ấp Nhựt Thạnh nằm cheo leo trên ngọn đồi nhỏ cách Khánh Sơn cổ tự khoảng 100m là nơi sinh hoạt văn hóa của người dân trong làng, và cũng là nơi yên tĩnh, linh thiêng để thờ các vị thần thánh. Hằng năm đều có tổ chức lễ hội với hàng trăm người dân của Cù Lao Rùa và các vùng lân cận tham dự.

Đình Nhựt Thạnh nằm ở phần thon nhất của Cù Lao Rùa, phần cổ rùa, là nơi thờ các vị thần trong làng có công với đất nước. Những vị này ngày xưa làm tướng thì sau khi quy tiên sẽ được phong thần. Đình Nhựt Thạnh cũng là nơi hội họp của người dân trong những buổi họp hội ý hoặc lễ Kỳ Yên vào tháng 2 Âm Lịch hằng năm.

Trên ngọn đồi cao, tách xa khỏi khu dân cư là một ngôi chùa mang tên Khánh Sơn Cổ Tự. Đường lên dốc chùa thật đẹp và nên thơ. Cả ngôi chùa được phủ mát với những hàng cây tràm lâu năm với tiếng chim hót líu lo. Đúng như câu dân gian mình hay nói “đất lành thì chim đậu”, dường như các loài chim cũng tìm về vùng đất linh thiêng và yên lành để làm tổ. Một nét văn hóa độc đáo khác của làng quê Thạnh Hội – Cù lao Rùa, nơi đây còn là nơi thờ phụng các anh hùng liệt sĩ, để khắc ghi và đời đời nhớ công ơn của các anh, một thời đấu tranh gìn giữ đất nước.

cu-lao-rua-1

Tại ngôi chùa cổ 200 năm tuổi có những tảng đó ong to lớn nằm lặng yên như áp ủ quá khứ mấy ngàn năm. Chính từ những tảng đá ong này, lịch sử mấy ngàn năm đã được khơi dậy. Qua những cuộc khai quật và khảo sát từ thế kỷ thứ XIX tới đầu thế kỷ XXI, các nhà khảo cổ người Pháp và các nhà khảo cổ VIệt Nam đã phát hiện nhiều công cụ bằng đá, bằng gốm như: đồ trang sức, bát bồng, bình hoa, thau, rìu đá, bàn mài,…

Nghiên cứu các hiện vật được tìm thấy, người đời sau biết được tính ăn, nết ở, phương cách canh tác nông nghiệp, săn bắn hái lượm, quan niệm sống chết của người Việt cổ trên đất Cù Lao Rùa. Theo các nhà địa chất học, ngược dòng thời gian cách đây khoảng 11.000 năm, do sự bào mòn và xâm thực nên vùng ở Bình Dương hình thành loại phù sa cổ với tên gọi là feralit mà người dân gọi đơn giản là đá ong, vì nó có hình dạng như tổ ong. Bởi nó càng bị phong hóa thì càng rắn chắc nên hay được dùng để xây mộ ở vùng Cù Lao này.

Như vậy, hơn 3000 năm trước khi nhiều nơi ở Nam Bộ vẫn còn hoang vu thì cư dân Cù Lao Rùa đã có một nền văn hóa tiền sử và đã là một cộng đồng có ý thức rất cao trong việc thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể trong hoạt động sống của mình. Những người con của Cù Lao Rùa rất tự hào khi bản quán, quê hương ruột thịt của mình có một di chỉ văn hóa cấp quốc gia – nơi còn in dấu người tiền sử.

cu-lao-rua-2

Cù Lao Rùa có 2 làng Tân Hội và Nhựt Thạnh, hầu hết cư dân là dân bản địa nên những sinh hoạt của Cù Lao Rùa còn giữ được nguyên vẹn nếp xưa. Họ thân thiện, nhiệt tình, họ giản dị, mộc mạc. Họ làm nông, chăn nuôi,… chỉ mong đủ sống và họ bằng lòng với điều đó. Họ vẫn còn những nét chân quê mà bao người ước ao không được. Những người con của Cù Lao Rùa đi xa làm ăn cũng mong mỏi có ngày được về với quê cha đất tổ.

Đặc biệt khi nhìn từ núi Bửu Long, Biên Hòa, Cù Lao Rùa được nhìn thấy rõ nhất. Hai bên đất thoai thoải, chính giữa đảo có hai ngọn đồi nhô cao, một ngọn cao và một ngọn thấp. Ngọn cao trông như chiếc mai của con rùa và ngọn thấp được ví như chiếc đầu rùa. Người xưa đã nhìn hình dáng của mảnh đất này mà đặt tên. Từ phố thị đi vào Cù Lao Rùa, ta đi vào một khoảng không gian yên ả lạ thường. Không có tiếng xe, tiếng máy, chỉ có dòng sông lặng lẽ và tiếng gió rì rào. Không có cao ốc, nhà hàng, khách sạn,…chỉ có những con đường làng quê trầm mặc.

Ngược về 200 năm trước, khi dong thuyền trên dòng Phước Long Giang, là sông Đồng Nai ngày nay, tức cảnh sinh tình, thi sĩ Trịnh Hoài Đức đã sáng tác bài thơ Quy dự vãn hà nghĩa là Ráng chiều trên Cồn Quy để ca ngợi phong cảnh nơi đây:

Thanh tĩnh cồn Quy vẽ chẳng xong

Ráng trời chiều muộn khí mù tăm.

Núi xa, muôn vẻ thiên hoa động,

Bờ cách, ngang trời sắc tím hồng.

Say ném ngọc bôi cùng thác lạc,

Nhàn nghe thơm phức khói hương xông.

Bên trời một chiếc cò chao liệng,

Tựa của lầu cao khúc sáo đồng.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s