Vùng đất tinh hoa Việt

Huyện Thuận Thành, nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Ninh, ven bờ sông Đuống hay còn gọi là sông Thiên Đức xưa. Thuận Thành là một trong những cái nôi của dân tộc Việt. Thời nhà nước Âu Lạc, đây là trung tâm cư trú của người Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ. Mảnh đất quê hương của những huyền thoại lịch sử này đã tạo nên những giá trị văn hóa giàu tính nhân văn và đậm đà bản sắc Kinh Bắc.

Trong hệ thống các di tích khá dày đặc ở Thuận Thành, bên cạnh Chùa Dâu, Luy Lâu thành cổ và nhiều điểm di tích khác, Khám phá Việt Nam tìm về xã Đại Đồng Thành để viếng thăm nơi thờ Kinh Dương Vương, theo truyền thuyết Việt Nam, ông là thủy tổ của dân tộc Việt. Tục truyền rằng, Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất (khoảng năm 2879 TCN), lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai, tên là Âu Cơ, sinh ra 1 trăm người con trai. Lạc long Quân bảo Âu Cơ rằng, ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó. Vì vậy, 2 người bèn từ biệt nhau, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi. Người con trưởng chính là Hùng Vương, nối ngôi vua. Vì vậy mà người Việt ai cũng tự hào về truyền thống con rồng cháu tiên là bởi vậy.

Cây có cội, nước có nguồn, khi đặt chân đến khu di tích thờ kinh Dương Vương ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành,huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, chúng tôi như tìm về nguồn cội. Khu di tích nằm trên 1 bãi bồi bên bờ nam sông Đuống, dưới những rặng cây êm ả bình yên như phong cảnh làng quê đã có tự bao đời. Lăng mộ Nam bang Thuỷ tổ tọa lạc ngay trên diện tích đất phù sa ven sông và hướng mặt về phía dòng sông Đuống nghiêng nghiêng uốn lượn.

vung-dat-tinh-hoa

Từ xa xưa, khu lăng mộ Đức thủy tổ Kinh Dương Vương đã được tôn tạo nhiều lần, đặc biệt phải kể đến lần trùng tu vào năm Minh Mạnh thứ 21( 1840). Sau đó, vào khoảng năm 1949, lăng mộ cũ đã bị thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn, mãi đến năm 1971, nhân dân địa phương mới xây dựng lại được. Đến  nay, khu lăng mộ đã được xây dựng khá khang trang ở khu vực tiền sảnh.

Chúng tôi được ông Lê Viết Nga, giám đốc bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, dẫn ra lối cổng cũ, nơi còn giữ được tấm bia đá cổ có khắc 2 chữ ‘Hạ mã’. Chúng tôi lại tiếp tục theo chân PGS TS Trình Năng Chung tới lăng mộ Kinh Dương Vương. Những bậc thềm dẫn tới ngôi mộ đã phủ màu rêu xanh…Cảm nhân về chốn linh thiêng bậc nhất được xếp vào loại miếu thờ đế vương các triều đại từ cổ xưa. Cảm nhận đó càng trở nên linh thiêng hơn khi chúng tôi cùng thắp nén nhang thành kính hướng về tiên tổ…. Ngôi mộ giản dị, đắp trên một gò đất nhìn ra bờ sông Đuống, xung quanh là những cây cổ thụ quanh năm xanh tốt. Nhân dân không xây thành lăng, mà chỉ xây cao lên bằng gạch cổ, có mái nhỏ che mưa nắng. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là ngôi mộ cổ do nhân dân chọn địa thế đẹp, có tụ khí phong thủy, dựng lên như một biểu tượng.

Phía trước phần mộ cổ có hai chữ Bất Vong, nghĩa là không bao giờ bị lưu lạc. Phía dưới hàng ngang có năm chữ: “Ái Quốc Mạc Vong Tổ”. Phía hậu lăng là bức Nam Tổ Miếu. Hai bên lăng có đôi câu đối ghi: “Quốc Thống Khai Nam Phục/ Bi Đình Kỷ Thành Công”. Giữa lăng là bia đá khắc ba chữ Kinh Dương Vương đã được vua Minh Mạng năm thứ hai mươi mốt trùng tu lần cuối cùng vào năm 1840. Phía bên ngoài lăng có đôi câu đối: “Xích quỷ sơ đồ xuất/ Hồng bàng vạn đại sương”. Đây là nơi hằng năm, các vị nguyên thủ quốc gia và nhân dân cả nước vẫn về dâng hương tưởng nhớ đến nguồn cội , tiếp nối truyền thống uống nước nhớ nguồn bao đời nay của dân tộc Việt Nam.

Trong tâm thức của người dân thôn Á Lữ, Kinh Dương Vương còn được tôn thờ  như một vị thành hoàng. Năm 1959, sau khi ngôi đình làng cũ bị giặc Pháp tàn phá, người dân nơi đây đã rước ba vị thành hoàng là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ về thờ tại ngôi đền thờ ngày nay. Ngôi đền nằm bên trong đê, cách khu lăng mộ chừng 500m. Ngôi đền gồm ba gian xây cất theo kiểu chữ công.

vung-dat-tinh-hoa-2

Chúng tôi bước vào ngôi đền thờ, vị thủ từ đón chúng tôi bằng những cuốn sách về lịch sử khu di tích Kinh Dương Vương. Đối với vị thủ từ cao niên cũng như những người dân Đại Đồng Thành thì ngôi đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ thực sự là một chốn linh thiêng. Bởi đó là nơi thờ phụng tổ tiên, đó là nơi tâm thức người dân hướng về nguồn cội…

Trong ngôi đền ba gian, các bức đại tự đặt ở vị trí trang trọng. Phía trên cùng là dòng chữ ‘Nam Bang thủy tổ’. Hai bên là hai câu đối “Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy – Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú linh thanh”, “Phụ đạo thiên niên quốc – Âu Cơ bách noãn bào”

Gian giữa ngôi đền có long ngai sơn son thếp vàng đặt trên bệ thờ Kinh Dương Vương, gian bên trái có ngai đặt trên bệ thờ Âu Cơ, gian bên phải có ngai đặt bệ thờ Lạc Long Quân, cùng với hệ thống nghi trượng bằng đồng, gỗ, sứ khá phong phú như: mâm đồng, đỉnh, lư hương, ống hoa, thau rước nước, chiêng… cùng 15 đạo sắc của các vua triều Nguyễn ban cấp hiện còn lưu giữ.

Dù cho chiến tranh tàn phá, bão lũ hủy hoại, nhân dân Á Lữ luôn bảo trọng, tôn tạo khu di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương để nhân dân trong làng và du khách thập phương quanh năm hương khói và tụ hội tri ân những bậc thủy tổ. Vào ngày 15 đến 18 tháng giêng âm lịch hàng năm, những con Lạc cháu Hồng khắp nơi về đây dâng hương bái lạy tiên tổ Đáng chú ý nhất là lễ Phục Ruộc trước ngày chính giỗ khoảng 2 – 3 ngày. Phục Ruộc là lễ rước nước dòng sông về thờ Thánh trong ngày đại giỗ. Theo tích xưa, các cụ trong làng truyền lại: Khi Lạc Long Quân mang năm mươi người con theo mình về phương Nam dạy cho các con cách đóng bè chuối thành thuyền mà làm ăn sinh sống bằng nghề chài lưới. Chẳng ngờ gặp cơn hồng thủy, một số người con trai đi đánh cá đã không thể trở về. Lạc Long Quân xót lòng xuống biển tìm con và dặn lại những người con khác rằng: “Nếu thấy cha đi lâu không về mà trên trần gian có điều gì khó khăn nguy hiểm thì ra bờ sông mà đọc thần chú rằng: “Ô hô! Ô hô! Ô hô” (nghĩa là cha về cứu chúng con)”.

Sau này cứ trước ngày giỗ tổ Kinh Dương Vương, người dân lại bơi thuyền ra giữa dòng sông lấy nước về cúng lễ. Hành động đó có ý nghĩa cao quý như lời mời đức Thủy tổ về chứng kiến cuộc sống của nhân dân Á Lữ và nhân dân cả nước, phù hộ độ trì cho thiên hạ thái bình, vạn thọ. Lòng tri ân của nhân dân Thuận Thành dành cho bậc thủy tổ còn thể hiện ở những lễ vật dâng lên trong những ngày lễ ấy. Đó là 3 mâm trám đen và 3 mâm gỏi cá để tế các bậc thủy tổ Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân và Âu Cơ tại đền Thượng và đền Hạ. Các mâm tế: “trám đen” tượng trưng cho 50 người con theo mẹ lên vùng rừng núi sinh cơ lập nghiệp. Còn các mâm “cá gỏi” tượng trưng cho 50 người con theo cha xuống biển khai mở miền biển.

Chính bởi những bản sắc văn hóa vật thể và phi vật thể như vậy trên quê hương Thuận Thành, mà nhiều người đã gọi Thuận Thành là vùng đất tinh hoa Việt, quả thật không sai. Nơi đây, sức sống Việt lúc nào cũng mạnh mẽ, ngay cả khi văn hóa Hán đã tràn vào. Chúng tôi đã nghe được tiếng vọng của tổ tiên trong tâm thức của chính mình khi đến với vùng quê yên ả này.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s