Chùa Cầu Đông

Có một ngôi chùa đã gần nghìn năm tuổi, toạ lạc ngay giữa phố phường đông vui nhộn nhịp: chùa Cầu Ðông. Xưa, đầu phố Ngõ Gạch là cổng “Ðông môn” (hoặc Ðông hoa). Sông Tô, từ sông Hồng chạy vào phố chợ Gạo, ngõ Gạch, cắt phố hàng Ðường trước khi chảy chệch lên Hàng Lược. Vì vậy, có một cây cầu nhỏ bắc qua sông, gọi là cầu Ðông và chùa xây gần cổng “Ðông môn” có tên là “Ðông môn tự” (nay là 38B Hàng Ðường). Vị trí tọa lạc của chùa Cầu Đông chính là nơi buôn bán sầm uất nhất của kinh thành Thăng Long xưa. Từ thời Lý, thuyền bè về Thăng Long, từ sông Nhị có thể vào cửa sông Tô , vào chợ gạo, chợ cầu Ðông và tiếp tục ngược lên cửa Hồ Khẩu , sang phía Tây kinh thành. Ðến ngày rằm, mồng một hàng tháng, dân kinh thành và những người buôn bán từ phố ra, từ bến sông lên, vào lễ ở ngôi chùa này.

Ngày nay, đi trên phố Hàng Đường, qua ngôi chùa nằm khiêm nhường giữa phố phường tấp nập,chúng ta sẽ chỉ cảm nhận về ngôi chùa như một khoảng lặng tâm linh, nếu như không tìm hiểu về lịch sử của nó. Có thể nhìn nhận, khu vực nhỏ này của Thăng Long – Hà Nội, từ thời Nguyễn Trãi ghi vào sách Dư địa chí, đây là phường Đường Nhân (có nghĩa là phường nhiều người nhà Đường cư trú, buôn bán), chắc rất đông đúc thương nhân Hoa kiều. Vậy mà thôn Đông Hoa Môn đã có một ngôi chùa thờ Phật thuần Việt, là chùa Cầu Đông, ngay từ thời xa xưa đó.

Vị trí của chùa Cầu Ðông tạo lên quang cảnh không khí riêng của đất Kẻ Chợ trong phức thể: Bến sông – Chợ búa – Ðền hoặc Chùa. Ngoài Cầu Ðông, dân gian trao đổi, mua bán sản vật. Nhưng qua qua khỏi cầu là đến chùa – thế giới của tâm linh. Ðặc biệt ở gần chùa, cổng “Ðồng môn” là nơi triều đình niêm yết danh sách các thí sinh trúng cử trong các kì thi, nên đây cũng là một tụ điểm văn hoá của đất kinh kỳ.

chua-cau-dong-2

Kiến trúc của chùa hiện nay được kết cấu theo kiểu kiến trúc của thời kỳ đầu nhà Nguyễn, song vẫn phảng phất dấu vết của thời cuối nhà Lê. Điểm nổi bật ở đây là người nghệ nhân ngày xưa đã khéo léo kết hợp phương pháp chạm nổi, chạm bong, chạm lộng (lối chạm xuyên qua gỗ) để tạo nên một hình khối ken dầy những họa tiết đẹp mắt. Các mảng chạm bong, chạm nổi, được thể hiện tập trung trên vì kèo ván mê và hai cốn, cửa, gian tiếp giáp giữa tiền đường và hậu cung. Đây là những mảng chạm công phu, cầu kỳ, tinh xảo, mang bóng dáng của nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII, XVIII.

So với những ngôi chùa cổ trên đất Thăng Long – Hà Nội, chùa Cầu Đông còn giữ được nhiều tượng cổ. Bộ tượng Tam thế, thể hiện tư tưởng Phật ở ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai, là những cổ vật quan trọng của chùa Cầu Đông. Có thể nói, đó là những pho tượng đẹp chuẩn mực của tượng Phật Việt Nam thế kỷ XVII, mang giá trị nghệ thuật cao. Trong Thập điện của chùa, còn có pho tượng vào loại quý hiếm trong di sản tạo tác nghệ thuật của người Việt ta. Đó là tượng Tuyết Sơn với nét điêu khắc tinh tế, mô tả kiểu áo buông hờ hững trên vai, để lộ thân thể gầy guộc mà vẫn toát lên vẻ thanh tao, thoát tục. Cùng với tượng Tuyết Sơn, tượng Di Lặc cũng là một di vật quý của chùa Cầu Đông. Tượng có tầm vóc tương đương người thực, bụng phệ, gương mặt cười rạng rỡ. Nếu Tuyết Sơn mang vẻ suy tư, trăn trở tìm đường giải thoát, thì Di Lặc cho thấy con đường giải thoát đã đạt tới viên mãn…

Ở chùa Cầu Đông còn có một bàn thờ với tượng Trần Thủ Độ và tượng bà Trần Thị Dung, những nhân vật lịch sử đặc biệt thời Trần. Có thể nói, Trần Thủ Độ là vị kiến trúc sư tạo dựng nghiệp lớn nhà Trần (thế kỷ XIII – XIV) và Cầu Đông là ngôi chùa duy nhất ở Hà Nội thờ ông..

chua-cau-dong-1

Kể từ khi mới dựng, chùa đã qua nhiều bước thăng trầm cùng lịch sử và cũng đã được trùng tu không ít lần. Ngoài những pho tượng quý hiếm, có giá trị văn hóa lịch sử, chùa Cầu Đông còn có bốn tấm bia, trong đó, ba tấm bia có niên hiệu thời Lê, là những di vật quý giá người xưa gửi lại cho hậu thế. Bốn bia đá cổ có các niên đại: Vĩnh Tộ thứ sáu 1624, Dương Hòa thứ năm 1639, Vĩnh Thịnh thứ tám 1712 và Gia Long thứ mười sáu 1817. Đó là những năm chùa được trùng tu lớn.

Đến nay chưa biết chùa Cầu Đông được xây dựng năm nào, chỉ biết những lần sửa chữa từ thời nhà Lê đến nhà Nguyễn đều được ghi lại cụ thể, rõ ràng và qua các lần sửa chữa này, diện mạo, quy mô kiến trúc chính của ngôi chùa gần như được giữ lại nguyên vẹn đến ngày nay.

Năm 1899, người Pháp lấp đi sông Tô (từ Giang khẩu đến chân thành cổ) để làm tường. Chợ Cầu Ðông và chợ Gạo chuyển lên chợ Ðồng Xuân, nhưng chùa Cầu Ðông vẫn vang tiếng chuông của ngàn xưa: “Cầu Ðông vang tiếng chuông chùa/ Trăng soi giá nến, gió lùa khói hương”. Sự hiện diện của một ngôi chùa có từ thời Lê giữa lòng phố cổ Hà Nội, nơi khách thập phương và Phật tử trong vùng vẫn hàng ngày đến đây hướng về cõi Phật, nơi những người dân làm nghề buôn bán trên dãy phố Hàng Đường vẫn quy tụ về đây với những ước mong tốt đẹp và thiện tâm. Không chỉ là chốn linh thiêng thiền tự mà chùa Cầu Đông đã mang tính xã hội hóa cao. Điều đó tạo nên sức sống bền bỉ của ngôi chùa qua bao thăng trầm lịch sử.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s