Những người “đi mong” cuối cùng

Trà Vinh là dải đồng bằng ven biển bao gồm vùng châu thổ được hình thành lâu đời và những vùng đất trẻ mới bồi. Nơi đây có hàng trăm gò, giồng đất và một mạng lưới sông rạch, kênh đào chằng chịt cung cấp nước tưới tiêu và phù sa cho cây trồng. Có lẽ chính địa hình vừa là vùng biển vừa là đồng bằng ấy đã tạo nên những đặc thù rất riêng cho vùng đất này. Đặc biệt hơn, để phục vụ sản xuất phù hợp với điều kiện thiên nhiên, người dân Trà Vinh đã sáng taọ nên những công cụ lao động vô cùng độc đáo mà chỉ từ cái tên đã đủ gây ngạc nhiên thích thú.

Ấp Nhì, xã Mỹ Long Nam – vùng đất nơi sông và biển gặp nhau. Từ lâu đã lưu dấu cư dân với cuộc sống gắn liền với biển. Điều đặc biệt nhất của nơi đây là có nhiều cồn bãi. Đây là phía cuối dòng, nơi sông Cổ Chiên đổ ra biển. Phù sa lắng lại làm nên những bãi bồi và cồn cát. Khi thủy triều lên cả cồn cát chìm trong biển nước, nhưng khi nước ròng sát, hàng trăm hecta bãi cát nổi lên giữa nắng và gió. Bà con tận dụng những bãi bồi màu mỡ để trồng hoa màu. Nhưng nghề kiếm sống chính vẫn ở ngoài những cồn bãi lấn biển. Và đây là những công cụ giúp họ mưu sinh nơi đầm nước đặc biệt này: “chiếc mong”. Đây có lẽ là nơi cuối cùng của tỉnh Trà Vinh còn nghề “đi mong”. Phường “đi mong” ở xứ này giờ chỉ còn ngót nghét chưa đến 20 ngư dân.

nguoi-di-mong4

Chiếc mong do bà con tự chế tạo khá thô sơ, chủ yếu bằng gỗ. Phần chính là một ván gỗ dài cho người “đi mong” quỳ lên. Phía trên có gá tre để bám vào giữ thăng bằng. Bề mặt ván lướt trên mặt bùn giúp di chuyển dễ dàng ở địa hình đặc biệt. Dù chỉ là một tấm ván rộng gần ba tấc, dài hơn 1m nhưng quá trình chế tác “mong” cũng không hề đơn giản: không quá dày để bớt sức nặng, cũng không quá mỏng vì sẽ mau mòn hư. Ván dùng làm “mong” phải là cây me nước, dầu hoặc mù u vì có độ bền cao, nếu bảo quản tốt có thể sử dụng đến hai, ba năm. Để cho tiện, người ta còn đóng cho “mong” quai cầm, chỗ để giỏ đựng, có người kỹ lưỡng còn lót thêm miếng cao su để lúc chân quỳ lên không bị ê buốt.

Bãi bồi ven biển trải rộng tựa như đường đua bất tận. Người “đi mong” cúi người về phía trước, một chân quỳ lên “mong”, chân còn lại đạp xiết đẩy “mong” lao đi êm ru như một cua-rơ chuyên nghiệp. Trong ký ức của những người già nơi đây, bãi bồi ven biển từ Mỹ Long đến Cồn Nạng dài bảy, tám cây số cá tôm nhiều vô kể. Sáng sớm, khi thủy triều rút cạn, bãi bồi lộ dần. Phụ nữ, trẻ em đã đạp “mong” ra biển để bắt nghêu, cá kèo, cá bống sao. Ban đêm, thanh niên, đàn ông đạp “mong” để soi cua, cá ngát. Mỗi ngày đạp “mong”dân bãi bồi thu nhập từ vài trăm đến hàng triệu đồng. Cứ mỗi tháng Hai con nước rằm và ba mươi, người “đi mong” chỉ cần ra biển hơn 10 ngày nhưng cũng dư sống cho cả tháng.

nguoi-di-mong5

Năm, bảy năm gần đây, khu vực từ bãi bồi được trồng nhiều bần để lấn biển, bần mọc đến đâu rễ bần đâm tua tủa như bàn chông. Mỗi chuyến đạp “mong” mất khoảng bốn, năm tiếng đồng hồ trước khi con nước lớn. Từ nơi này đến khu vực đánh bắt của nhóm ngư dân mất hơn một cây số. Chứng kiến sự hiếm hoi và vất vả của mọi người mới hiểu sao người dân bỏ “đi mong”. Một tiếng đồng hồ vất vả vật lộn cũng chỉ kiếm được vài con cá bống nhỏ không đủ bữa ăn cho gia đình. Ngư dân buộc phải bỏ “mong” để kiếm kế mưu sinh khác. Thỉnh thoảng, họ lại đem “mong” ra biển để kiếm vài con cá cho bữa cơm, hay chỉ còn dùng “mong” như là một phương tiện để di chuyển. Cũng có khi đó chỉ là một thói quen khó bỏ, đạp “mong” cho đỡ nhớ nghề. Và như một phép biện chứng hiển nhiên, một khi “mong” không còn, những người “đi mong” cuối cùng cũng giải nghệ là lúc biển trở nên nghèo nàn, xơ xác hơn bao giờ hết.

“Mong” một thời được xem là “nồi cơm” của dân biển. Bây giờ khi con cá kèo, cá bống sao thậm chí là những con cua “nhướng” lần lượt bị tận diệt chính là câu trả lời rõ nhất cho những chiếc “mong” bị bỏ nứt nẻ dưới gốc bần. Những ngày cả làng “đi mong” sôi nổi không còn nữa. Mấy năm nay, từ đóng đáy, ghe cào đến rập thi nhau khai thác tận diệt quanh năm nên biển bây giờ nghèo lắm. Đa số ngư dân đã treo “mong” để lên bờ chuyển sang nuôi bò, trồng dưa, đậu. Nghề “đi mong” sắp trở thành ký ức, người “đi mong” sắp trở thành những người kể chuyện cổ tích cho lớp con cháu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s