Những di tích cổ xưa ở Quảng Yên

Theo dòng sông Chanh, một phân lưu của sông Bạch Đằng lịch sử, chúng tôi đến với Quảng Yên, một vùng đất với nhiều di tích lịch sử, nơi vẫn còn lưu giữ những chiến tích hào hùng của ông cha ta.

Bên bờ sông Chanh có một bến sông mang tên bến Ngự thật nên thơ. Nơi mà nhà vua Lê Thánh Tông trong một lần đi qua trước cảnh sông nước hữu tình đã dừng lại, sai lập một hành dinh trên một bến nhỏ. Từ đó bến sông được dân gian gọi tên bến Ngự.

Từ thị xã Quảng Yên, chúng tôi đi về phía đông tới xã Tiền An, nơi còn lưu giữ một cụm di tích đền chùa La Khê, một không gian thấm đẫm văn hóa tín ngưỡng của người dân Việt Nam. Trong không khí linh thiêng và cổ kính, chúng tôi như dần tìm về cội nguồn của bản sắc tín ngưỡng dân tộc Việt với ngôi đền Mẫu thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Đạo Mẫu, từ bao đời nay là tín ngưỡng riêng của người Việt, có vai trò, vị trí đặc biệt, đáp ứng nhu cầu, khát vọng trong đời sống thường nhật của một dân tộc sinh ra và phát triển trong nền văn minh lúa nước. Đạo Mẫu, về nghi lễ, thờ các vị Thánh và Thánh Mẫu, được sinh ra từ ước vọng của nhân dân, mong cho mưa thuận, gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Về nghệ thuật dân gian, đây là hình thức diễn xướng trong văn hóa tâm linh.

Cũng trong cụm di tích, điểm níu giữ bước chân chúng tôi là một di tích lịch sử cấp quốc gia, nơi lưu giữ chiến công của hai vị công thần thời nhà Nguyễn, Trương Quốc Dụng và Văn Đức Giai trong cuộc chiến không cân sức chống lại nạn thổ phỉ do Tạ Văn Phụng cầm đầu vào giữa thế kỷ thứ 19. Địch đông, ta ít, tuy nhiên hai vị công thần quyết không lùi bước và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Theo truyền thuyết của người dân, sau khi 2 ông tử trận, hai con voi của các ông đã đưa thân chủ về phía rừng trúc chính là nơi dựng ngôi đền ngày nay và dẫm quang một khoảng rừng rồi đặt xác 2 ông xuống đó. Lạ thay, chẳng bao lâu sau tại nơi các ông nằm, đất đùn lên thành 2 ngôi mộ lớn…

Tiếp tục cuộc hành trình tìm hiểu về văn hóa lịch sử Quảng Yên, chúng tôi đến với một địa danh bên bờ sông Bạch Đằng – miếu Vua Bà. Miếu Vua Bà đặt cạnh đền thờ Trần Hưng Đạo bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử thuộc phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Miếu Vua Bà có từ đời nhà Trần, ngay nơi bến đò ngày trước, chỗ Hưng Đạo Vương hỏi chuyện một bà hàng nước. Tương truyền rằng trong khi đi thị sát địa hình chuẩn bị bãi cọc ngầm chống giặc, Trần Hưng Đạo đi qua bến đò và trò chyện với một bà cụ bán hàng. Cụ đã nói cho ông về quy luật lên xuống của thủy triều, địa thế lòng sông, đồng thời mách ông kết hợp chiến thuật hoả công để đánh giặc. Hưng Đạo Vương áp dụng chiến thuật bãi cọc của Ngô Quyền đã đánh tan quân giặc. Hàng trăm cọc gỗ bịt sắt cắm xuống lòng sông theo chiều xiên 45 độ ngược chiều nước ròng. Khi thủy triều lên, Trần Hưng Đạo cho những thuyền nhỏ khiêu khích chiến thuyền địch, dụ cho địch đuổi sâu vào trong sông. Thủy triều rút, quân Trần Hưng Đạo từ hai bên bờ bất thần phản công, địch hoảng sợ tháo lui, lúc ấy nước đã xuống dưới mức cọc, lòng sông tua tủa cọc nhọn như hầm chông. Trận đại chiến đã tiêu diệt 3 vạn quân Nguyên và 400 chiến thuyền. Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo quay lại bến đò tìm bà cụ bán nước thì không thấy nữa. Nghĩ đến lời của bà hàng nước, ông dâng sớ xin nhà Vua phong sắc cho bà là “Vua Bà” và lập đền thờ tại đây.

Rời khỏi miếu Vua Bà, chúng tôi theo cây cầu không tên bắc ngang qua sông để đến với đảo Hà Nam để tới thăm một ngôi đình cổ kính và lớn nhất trên đảo, đình Phong Cốc. Tên ngôi đình là vậy, tuy nhiên đối với người dân trong vùng, họ vẫn quen gọi ngôi đình với một cái tên thân thuộc, dân dã hơn – đình Cốc, như tên làng, tên chợ xưa kia.

Căn cứ vào các tư liệu lịch sử, nhất là đặc điểm điêu khắc, trang trí mỹ thuật của đình, các nhà nghiên cứu nhận định rằng đình Cốc được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 19. Toàn bộ các cấu kiện bên trong đình hầu hết bằng gỗ lim, phía trước là hệ thống cửa bức bàn, gồm hai cửa phụ, cửa chính và các chắn song lùa gió. Trong đó cửa chính thực sự là một tác phẩm kiến trúc độc đáo: Mỗi bên cửa được chạm nổi hình một con rồng như đang uyển chuyển từ trên mây sà xuống, xung quanh là hình mây lửa và các riềm hoa văn. Khi khép hai cánh cửa lại thì thành một tác phẩm hoàn hảo là hình hai rồng chầu mặt trời. Phía trong tiền đường, các gian được chia bởi 10 hàng cột dọc, 6 hàng cột ngang và 1 hàng cột hiên. Các cột được làm bằng gỗ lim, đường kính trung bình 75cm, chân cột kê bằng đá xanh vuông to, thớ mịn.

Tuy nhiên, cái hấp dẫn mọi người khi đến thăm đình Cốc chính là các trang trí mỹ thuật trên các bức cốn, câu đầu, con giường, kẻ bẩy, ván dong, xà đùi, xà dọc… với các đề tài: Long, ly, quy, phượng, các hình ảnh lễ hội dân gian như đánh vật, chọi gà, bơi thuyền, đi hội. Tất cả đều được thể hiện bằng lối chạm nổi kênh bong, trau chuốt, dày nhưng không hề rối, không gò bó, những đường nét nhỏ hài hoà với không gian kiến trúc lớn, thể hiện bàn tay khéo léo, tài hoa của người nghệ nhân xưa.

Ngoài giá trị về mặt kiến trúc, đình Cốc còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Bia đá, các hoành phi câu đối, bát bửu và nhiều đồ thờ tự được sơn son, thếp vàng nhuốm màu thời gian.

Tiếp tục cuộc hành trình tìm hiểu về văn hóa lịch sử Quảng Yên, chúng tôi đến với một địa danh bên bờ sông Bạch Đằng, một kiến trúc đã 600 năm tuổi, một ngôi đình thờ vị anh hùng dân tộc, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đình Trung Bản có diện tích 1732 mét vuông, bố cục kiểu chữ Đinh, gồm tiền đường 5 gian, bái đường 3 gian, hậu cung 2 gian. Truyền thuyết địa phương kể lại rằng: khi Trần Hưng Đạo đi xem xét địa hình trên gò đất Trung Bản, ông bị xổ tóc nên dừng lại cắm kiếm ở đấy, dân chài nhìn thấy nên sau này lập miếu thờ. Sau này làng Trung Bản thành lập, dân lập đình trên nền miếu cũ.. Trải qua mấy trăm năm, đình Trung Bản đã qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt đợt trung tu vào ngày 28/10/1919 và năm 1989, cho đến nay đình vẫn giữ những nét đặc sắc của kiến trúc đình làng cổ của người Việt.

Rời xa Quảng Yên, mảnh đất còn ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của một dân tộc nhỏ bé chống lại một đế chế hùng mạnh phương bắc, chúng tôi đi ngược lại con đường đã dẫn chúng tôi tới đây, để ngắm nhìn một lần nữa những địa danh lưu giữ biết bao kỷ niệm của một cuộc hành trình đáng nhớ. Những khoảng khắc yên bình của một vùng nông thôn, những kiến trúc cổ kính đã nhuốm màu thời gian, những câu chuyện lịch sử về một thời oai hùng của dân tộc. Thời gian cứ trôi đi, rồi đây chúng tôi trở về với cuộc sống ồn ào tấp nập của cuộc sống thường nhật. Dù trải qua bao nhiêu vật đổi sao dời, thì những di tích lịch sử nơi đây cùng với một trang sử hào hùng của dân tộc và truyền thống yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc tới tiền nhân vẫn được lớp trẻ chúng tôi và thế hệ mai sau kế tục.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s