Hậu tổ Nhạc Khị và cây đàn sến ba dây

Ngày 5/12/2013, UNESCO công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. UNESCO đánh giá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ đáp ứng được các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa, thể hiện sự hòa hợp văn hóa và tôn trọng văn hóa riêng của các cộng đồng, dân tộc. Đờn ca tài tử Nam Bộ là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình và những giai điệu ngọt ngào sâu lắng của dân ca miền Trung và miền Nam. Đây là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng miệt vườn sông nước Nam Bộ, là sự kết hợp hòa quyện đặc sắc giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc. Ban nhạc của Đờn ca tài tử gồm có bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Người dân vùng Ngũ Quảng bao gồm năm tỉnh miền Trung là những lưu dân đầu tiên theo lệnh chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam. Trong số họ, có nhiều người vốn là giáo phường nhạc lễ của triều đình Huế. Sau những giờ lao động mết nhọc, họôm đàn tìm đến nhau, cùng tấu lên những khúc nhạc như một hình thức thư giãn. Đờn ca tài tử từ đó và theo thời gian trở thành món đặc sản quốc hồn quốc túy của miền Tây Nam bộ.

Vào những ngày cuối tháng tư năm 2014, Liên hoan Đờn ca tài tử Nam bộ toàn quốc lần thứ nhất được diễn ra tại tỉnh Bạc Liêu, chiếc nôi của đờn ca tài tử và cũng là quê hương của nhạc sĩ Cao Văn Lầu với bài ca vua “Dạ cổ hoài lang”. Là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ để làm cơ sở cho phát triển của cổ nhạc và cải lương Nam bộ, Nhạc Khị- người nghệ sĩ tài danh- đã có công đào tạo được nhiều nhạc sĩ cải lương nổi tiếng như : Sáu Lầu tức Cao Văn Lầu, Cai Đệ, Mười Khói, Ba Chột, Tư Bình, Hai Tài,Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Thiện Thành, Tư Quận, Hai Tố, Năm Phát, Chín Khánh, Sáu Gáo, Mộc Thái, Tám Tu, Năm Nhu, Năm Nhỏ, Lý Khi… Không chỉ tạo ra được một lực lượng nhạc sĩ hùng hậu cho các ban nhạc cổ truyền, mà chính ông đã tạo dấu ấn quan trọng cho các phong trào đàn ca tài tử, ca ra bộ và sân khấu cải lương Nam bộ trong những buổi đầu. Tên thật của ông là Lê Tài Khí, người trong xóm thường gọi Hai Khị. Ông sinh vào khoảng tháng 3 năm Canh Ngọ 1870 tại thôn Láng Giài thuộc tổng Thạnh Hoà lúc đó thuộc phủ Ba Xuyên, nay là ấp Láng Giài thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Từ lúc mới sinh ra Nhạc Khị đã mang dị tật, hai mắt bị mù, hai tay nhỏ nhắn và bị cong như cán dá, trong những năm bé thơ Nhạc Khị đã bị bệnh triền miên, lúc hơn mười tuổi bị trúng phong phải nằm liệt giường đến ba năm mới hết, sau khi khỏi bệnh, một bên chân bị liệt, chân còn lại cử động rấtkhó khăn, hai tay vốn bị tật bẩm sinh nay thêm bị bệnh nặng nên càng thêm yếu ớt. Cha của ông là một thầy đàn, thấy con mình bị mù loà, bệnh tật không thể học được nghề nào khác nên đã đem tất cả khả năng và sự hiểu biết của mình về nhạc để truyền thụ lại cho con. Nhạc Khị vốn là một cậu bé thông minh, lại có năng khiếu về đàn nên chẳng bao lâu đã hấp thụ toàn bộ sở học của người cha. Có điều cha của ông không phải là một thầy đàn giỏi nên ông chỉ học ở cha một số ít bài bản, nhưng ông lại không cam tâm dừng ở đó mà ngày đêm chuyên cần tự học, tự tìm hiểu, lại cố tạo mọi điều kiện để học những ngón hay, bản lạ của các thầy đàn cao tuổi . Nhờ tính kiên nhẫn và trí thông minh tuyệt vời, nên chẳng bao lâu ông đã trở thành một thầy đàn nổi tiếng, có thể nói là một nhạc sư giỏi nhất ở vùng Bạc Liêu. Theo lời ông Cao Văn Hoai, con thứ tư của nhạc sĩ Cao Văn Lầu thì trí nhớ của Nhạc Khị không thể tưởng tượng được ông chỉ cần nghe ai đàn hoặc ca bất cứ bài bản nào trong một hai lần, ông đều có thể đàn hoặc ca lại giống y như thế, dù cho chữ đàn rắc rối đến đâu ông cũng lập lại rất dễ dàng . Cho nên tuy ông không chính thức thọ giáo với ai (ngoài cha ông) nhưng tinh hoa của các thầy đàn lão luyện ở đây ông đều thụ đắc. Hơn thế nữa, những gì thụ đắc được ông đều tự cải biên cho phong phú hơn, bất cứ bài bản nào qua tay ông đều được sàng lọc và đẽo gọt rất kỹ càng.

Ông được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm, đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ, nhân dân ta phải sống trong cảnh cơ cực, lầm than. Lúc đó, các phong trào yêu nước liên tiếp nổi lên và ông là một trong giới cầm ca sử dụng lời ca tiếng nhạc của mình để cổ vũ tinh thần yêu nước. Năm 30 tuổi, ông đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc, như các ban nhạc khác để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một lò đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước.Việc đào tạo của ông cũng khác xa mọi người, cách dạy đàn của ông không phải là để cho người học chỉ biết đàn mà phải biết sáng tác. Đối với ông, nghệ thuật dĩ nhiên phải mang tính nghệ thuật nhưng phải phục vụ con người và đất nước, vì vậy các việc sáng tác theo ông chỉ nên xoay quanh các vấn đề hoàn cảnh đất nước, phải khắc họa được những hình ảnh trung thực nhất lúc bấy giờ. Hầu hết học trò cùng các thành viên ban nhạc đều tiếp thu sâu xa lời dạy và thừa kế tinh thần yêu nước nồng nàn của ông, họ đã sáng tác những tác phẩm tuyệt vời như : Dạ cổ hoài lang của Sáu Lầu, Tam quan nguyệt, Liêu giang của Ba Chột, một số lời ca : Đưa chồng ra mặt trận, Chinh phụ thán, Sầu chinh phụ của Trịnh Thiên Tư … Tuy mỗi người mỗi vẻ với nghệ thuật độc đáo riêng, nhưng cái chung vẫn là hình ảnh tái tê của người chinh phụ đang mỏi mắt trông chồng. Là người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, từ lâu Nhạc Khị đã được giới nghệ sĩ cổ nhạc tôn xưng là Hậu Tổ. Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc ở Bạc Liêu, mà còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiều nơi, nhiều tỉnh trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Có thể nói Nhạc Khị là cây đòn bẩy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng.Với những đóng góp to lớn cho nhạc cổ nên không riêng gì giới nghệ sĩ Bạc Liêu mà cả một số lớn ca nhạc sĩ ở các nơi khác đều gọi Nhạc Khị là Hậu Tổ và đều thành tâm chiêm bái, tưởng niệm ông vào ngày giỗ tổ cổ nhạc 12 tháng 8 âm lịch hằng năm. Hiện nay tại phường 5 thành phố Bạc Liêu đã có con đường mang tên Nhạc Khị nằm song song với đường Cao Văn Lầu. Hai thầy trò của ông chính là hai nhà văn hóa tiền bối đã được người Bạc Liêu đời đời tưởng nhớ.

Là người con trai duy nhất của Nhạc Khị, từ thuở nhỏ, Ba Chột đã nổi danh là thần đồng cổ nhạc, chưa đến tuổi thành niên đã trở thành nhạc sĩ tài ba, tiếng tăm lừng lẫy vùng đất Tây Nam bộ. Ngoài mười tám sáng tác về bài bản cổ nhạc, ông còn để lại cho đời một sản phẩm vô giá, đó là chiếc đàn sến ba dây với cách đàn đặc biệt. Bình thường đàn sến là nhạc cụ có hai dây, thuộc bộ dây cho gảy của người miền Nam, hộp đàn có hình lục giác hay hình hoa đào sáu cánh với đường kính khoảng hai mươi tám cm. Mặt đàn và đáy kín, làm bằng gỗ nhẹ, trên mặt có gắn ngựa đàn để mắc dây, thành đàn làm bằng gỗ cứng, dày khoảng 6 cm. Cần đàn làm bằng gỗ cứng dài khoảng sáu mươi lăm cm, trên cần có gắn mười một phím bằng tre theo thang bảy bậc chia đều, dây đàn bằng tơ se hay cước nilon, lên theo quãng 5 đúng (sol, rê). Mặc dù về mặt cấu tạo thì đàn sến cũng giống như đàn kìm, nhưng âm thanh của nó trong trẻo, tươi sáng và ít vang hơn. Riêng cây đàn sến của cụ Ba chột thì có đến ba dây, ông đã bỏ công một thời gian rất dài và nhiều lần thất bại mới hoàn thành được chiếc đàn này. Thân đàn được làm bằng gỗ vông đồng, có hình dáng chiếc hoa mai sáu cánh, cán làm bằng lõi cây tra, toàn bộ chiếc đàn được làm bằng vật liệu địa phương, chỉ trừ ba chiếc dây nilon là phải mua ở nơi khác, sau khi hoàn thành, ông tiếp tục sáng tác tạo ra một phương pháp đặc biệt để sử dụng nó. Chiếc đàn kỳ lạ này đã làm cho tên tuổi nhạc sĩ Ba Chột một thời vang dội. Thanh Minh ngày mười hai tháng ba năm Quý Mão tức ngày 5 tháng 4 năm 1963, nhạc sĩ Ba Chột lìa đời, chiếc đàn sến ba dây của ông được để lại cho người sư đệ là nhạc sĩ Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng) sử dụng. Nhạc sĩ Năm nhỏ rất trân trọng chiếc đàn này, xem như một vật kỷ niệm rất quí báu, nên bảo quản rất kỹ. Nhưng do làm bằng gỗ thường, nên dùông cố gắng gìn giữ cũng không thể tồn tại mãi với thời gian. Năm 1985, khi gia đìnhông khui thùng thì chiếc đàn đã mục nát tự bao giờ, phỏng theo kiểu dáng đó người ta làm lại chiếc đàn khác, nhưng vì cách sử dụng rất khó, đòi hỏi công phu luyện tập lớn, nên hiện nay đàn sến ba dây không được phổ biến lắm dù nó là nhạccụ tuyệt vời, sản phẩm tinh kỳ của nhạc sĩ tài ba đất Bạc Liêu.

Nhạc sĩ Ba Chột thực sự đã có những đóng góp rất lớn, không những cho giới cổ nhạc Bạc Liêu, mà còn cho cả nền cổ nhạc Nam Bộ. Có thể nói mỗi tác phẩm củaông đều là tinh hoa nghệ thuật rất thích dụng cho đàn ca tài tử và sân khấu cải lương. Đặc biệt là đóng góp to lớn củaông trong việc sáng tạo ra cây đàn sến ba dây, một nhạc cụ tuyệt vời mà cách sử dụng nó gần như bị thất truyền. Thế mà từ trước đến giờ chưa có bài viết nào về cuộc đời và sự nghiệp củaông, chưa có một đánh giá cụ thể nào về công lao của ông, cả mồ mả củaông sau chùa Vĩnh Phước An nằm gần khu di tích Cao Văn Lầu cũng chỉ là nấm đất hoan, nếu không được người trong chùa chỉ điểm có lẽ người ta sẽ không bao giờ dám nghĩ đây là ngôi mộ của một nghệ sĩ đã từng một thời vang bóng.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s