Đặc sắc bút tích các Hoàng đế trên châu bản triều Nguyễn

Một đất nước có tư liệu di sản lịch sử được khu vực hay thế giới công nhận, mặc nhiên xem như tính pháp lý quốc tế đã công nhận, khẳng định nền văn hóa, tính chủ quyền của dân tộc ấy trong bề dày lịch sử. Dân tộc ấy có quyền tự hào về tính bản sắc riêng của mình.

Hơn 700 tập châu bản triều Nguyễn được bảo quản, lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I. Đây ước chừng chỉ còn 1/5 số lượng châu bản của 10 đời vua triều Nguyễn trải dài trong khoảng thời gian 143 năm, kể từ đầu thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 của cả một giai đoạn lịch sử Việt Nam. Đây là các văn thư hành chính cổ, do các cơ quan chính quyền từ Trung ương đến địa phương soạn thảo trên chất liệu giấy gió được nhà vua thông qua dưới các hình thức: ngự lãm hay ngự phê bằng mực màu son để chuyển đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề của một quốc gia như chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khoảng 400.000 trang tài liệu được bảo quản đến hôm nay là chứng tích của 10 đời vua triều Nguyễn tính từ Gia Long, đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Thanh Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.

Ngày 30/7/2014 tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, Bộ Nội Vụ, Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước chính thức tổ chức Lễ đón nhận bằng di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn thuộc chương trình ký ức Thế giới, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO.

An ban vua tren chau ban trieu Nguyen.4

Một đất nước có tư liệu di sản lịch sử được khu vực hay thế giới công nhận, mặc nhiên xem như tính pháp lý quốc tế đã công nhận, khẳng định nền văn hóa, tính chủ quyền của dân tộc ấy trong bề dày lịch sử. Dân tộc ấy có quyền tự hào về tính bản sắc riêng của mình. Chẳng thế mà nước nào cũng lập hồ sơ, đệ trình lên tổ chức UNESCO xin công nhận những di sản mang nét độc đáo riêng của nhà nước hay dân tộc mình. UNESCO cũng có những tiêu chí nghiêm ngặt để xem xét, đánh giá hồ sơ mỗi bộ di sản.

Đối với những di sản tư liệu, tổ chức UNESCO đề ra những tiêu chí chính sau:

  • Ý nghĩa nội dung: tầm ảnh hưởng quốc tế của nội dung chứa trong tư liệu
  • Tính xác thực của tư liệu
  • Tính độc đáo
  • Tính quý hiếm
  • Thời gian hình thành tư liệu
  • Tính toàn vẹn của khối tư liệu
  • Yếu tố con người được phản ánh qua tư liệu

Bộ di sản tư liệu châu bản triều Nguyễn của Việt Nam được UNESCO đánh giá như một báu vật độc nhất vô nhị trong khu vực. Phải chăng, đó là sự khẳng định cái riêng về bản sắc, cũng như tính độc lập của một dân tộc suốt bề dày lịch sử.

Thông tin trong Châu bản triều Nguyễn khá hoàn chỉnh, phản ánh tất cả các mặt hoạt động của xã hội và con người Việt Nam trong cả thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam thì cũng thấy lịch sử của nhân loại, của toàn thế giới. Châu bản triều Nguyễn rất độc đáo và quý hiếm trong khu vực, không phải quốc gia nào cũng còn lưu giữ được một loại hình tài liệu độc đáo như vậy.

Ngự phê của vua Tự Đức năm 1859: “...Việc huấn luyện biền binh cốt làm cho mọi người đều can đảm dũng mãnh, kỹ thuật tinh thông, gặp chết không từ” - Ảnh: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1 cung cấp

Ngự phê của vua Tự Đức năm 1859: “…Việc huấn luyện biền binh cốt làm cho mọi người đều can đảm dũng mãnh, kỹ thuật tinh thông, gặp chết không từ” (Ảnh: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1 cung cấp)

Việc ngự phê của các vua triều Nguyễn là một trong những đặc điểm độc đáo của Châu bản. Ngự phê trong Châu bản triều Nguyễn được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú, phân chia mạch lạc các cấp độ phê duyệt của vua trong các bản tấu: phụng thượng dụ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, sớ, bậc.

Châu Điệp là một nét son được nhà vua ý chỉ bằng cách chấm lên đầu văn bản hoặc một vấn đề cụ thể, thể hiện sự đồng ý của vua. Châu Mạt là nét son được nhà vua phết trực tiếp bên cạnh những việc chấp thuận hoặc không chấp thuận. Châu Sổ là nét son được gạch sổ trực tiếp lên những chữ cần sửa chữa hoặc không được chấp thuận. Châu Cải là có chữ, câu, hay đoạn viết bên cạnh những chữ đã sổ bỏ nhằm sửa lại hoặc thể hiện quan điểm của nhà vua. Đặc biệt, Châu Phê là những chữ, những câu hay cả một đoạn văn do đích thân nhà vua viết hoặc chen vào giữa các dòng trên văn bản, thể hiện quan điểm, ý kiến chỉ đạo. Bút Phê là hình thức lưu bút để lại rõ nét nhất hình bóng cá nhân của nhà vua in lên nền tảng Quốc gia về mọi phương diện đường lối chính sách trong thời điểm lịch sử của mình.

Ngự phê của vua Minh Mệnh năm 1926: Mùa xuân mới nở, vui mừng được xem tờ tâu báo tin thời tiết thuận hòa. Trẫm chắp tay cầu trời cho ruộng đồng cả nước đều được mùa. Khâm Thử”.

Ngự phê của vua Minh Mệnh năm 1926: Mùa xuân mới nở, vui mừng được xem tờ tâu báo tin thời tiết thuận hòa. Trẫm chắp tay cầu trời cho ruộng đồng cả nước đều được mùa. Khâm Thử”.

Bên cạnh bút phê của nhà vua, thì Ấn Chương là nét độc đáo thứ hai được ghi nhận trên Châu bản triều Nguyễn. Hình ảnh những con dấu cùng những hình khối, đường nét, chữ nghĩa, đã khẳng định chủ quyền quốc gia của triều đại phong kiến nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Bút phê và Ấn chương trong Châu bản triều Nguyễn được xem như là một chứng tích hiện thực mang tính chân lý của lịch sử, qua đó, những nhà sử học có thể chép sử một cách trung thực nhất về sự kiện cũng như bày tỏ những góc nhìn về những nhân vật mang số mệnh lịch sử, thông qua chính những gì họ đã lưu bút thể hiện trên văn bản.

Chính vua Thành Thái tháng 1 năm 1889 đã phê duyệt việc đặt mua tờ báo Pháp l’Opinion. Đây là ý tưởng tân tiếng đầu tiên của vị vua cắt tóc ngắn, mặc đồ Tây, nói tiếng Pháp với ý tưởng “Học người Pháp để chống Pháp chứ không làm tay sai”. Trong những Châu bản của Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, lại được viết bằng cả 3 thứ tiếng: Hán, Pháp và chữ Quốc ngữ. Đó là dấu ấn thời cuộc, mang tính thời điểm lịch sử, pha trộn giữa tiếng Hán của quá khứ, chữ Quốc ngữ của dân tộc và thứ tiếng Pháo của thực dân Pháp đang xâm chiếm Việt Nam thành thuộc địa thời kỳ này. Đó là tính lịch sử ẩn sau cái bề ngoài những dòng ngự phê của vua Bảo Đại. Quả là mỗi ấn chương,,mỗi ngự phê đều có tiếng nói riêng của nó. Chân thực lịch sử, hiện thực hung hồn một cách ngẫu nhiên.

An ban vua tren chau ban trieu Nguyen.5

Bởi thế, 19 tờ Châu bản, thực thi việc nhà Nguyễn thể hiện chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã trrở thành tài liệu Lịch sử, magn tính chủ quyền Quốc gia, chứng cứ được xác thực, không cần bàn cãi.

Những văn bản với ấn chương xác thực cho thấy nhà nước phong kiến triều Nguyễn không chỉ ý thức về chủ quyền ở đất liền, mà còn ở lãnh hải ngoài biển đảo của mình. Châu bản triều Nguyễn được sự công nhận của tổ chức UNESCO thế giới luôn là hiện vật ẩn chứa chân lý sự thật không ai có thể nói khác, không ai có thể thay đổi. Đó là sức mạnh đằng sau những ấn triện, bút phê, đó là giá trị mang tính vượt thời gian mà ngay cả những người thực thi cũng không cảm nhận hết được những ý nghĩa vượt thời gian đằng sau những ngự phê, ấn chương này.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s