Hùng Vương Tổ Miếu

Các cụ làng còn bảo trong ngọc phả làng An Thái có chép rằng khi ấy vua Hùng rất khen ngợi nàng Quế Hoa mới bảo các Mỵ Nương học điệu hát đấy để hát các dịp đầu xuân, gọi là Hát Xuân, nhưng vì Xuân là tên vợ vua nên gọi lệch đi là Xoan, tục Hát Xoan bắt đầu từ đấy.

Xã Phượng Lâu, phía Tây Bắc Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có một ngọn núi tên gọi Núi Cấm, xưa kia, vùng này là đất làng An Thái. Tuy gọi là núi nhưng độ cao của nó chỉ như một ngọn đồi. Những câu chuyện truyền lại qua nhiều đời về ngọn núi này nghe đầy cảm xúc linh thiêng, huyền bí. Nó vẫn được bảo tồn sống động từ đời nọ sang đời kia.

Ngày xửa ngày xưa, Núi Cấm này đất rộng, người thưa, cây cối rậm rạp không thấy nổi đường đi, nhiều cây cổ thụ cao to tới 2-3 người ôm không xuể, chim chóc, muông thú cư trú đông đúc, theo bầy, theo đàn díu dít tụ hội, thậm chí hổ, báo cũng về đây nương náu. Xung quanh Núi Cấm có đầm nước sâu bao bọc. Mùa mưa, nước lên, đầm sâu có dễ tới 4-5m, mùa cạn nước có rút đi thì vẫn còn sâu 2-3m. Nước ở đây có mạch nguồn từ Núi Cả nơi có Đền Hùng đổ về. Lại được thông với sông Lô thành nơi giao hội cho cá tôm tụ lại sinh sống ở đây. Một vùng sơn thủy quây quần muông thú sinh sôi, tụ hội. Chả trách các cụ xưa truyền lại rằng Núi Cấm được tôn làm vùng địa linh, sức sống dồi dào, mạnh mẽ. Trên đỉnh Núi Cấm có một khoảnh đất rộng bằng phẳng, một ngôi miếu nhỏ bé, cổ kính tọa lạc ở đây. Người dân làng An Thái đây tự hào lắm về ngôi miếu này. Người làng còn truyền nhau qua nhiều đời rằng đây là ngôi miếu cổ duy nhất.

Hung Vuong to mieu

Vùng đất Tổ này có tới 73 xã, thôn, có miếu thờ Vua Hùng và các lạc tướng của vua. Vậy đây có phải là ngôi miếu cổ nhất như người làng truyền nhau không? Cũng chưa có sử sách nào khẳng định đâu là ngôi miếu cổ nhất. Dòng chữ trên cửa miếu này là “Hùng Vương tổ miếu”. Cứ theo cách hiểu đơn giản qua dòng chữ này thì chắc chắn đây là miếu được làng lập nên để thờ tổ Hùng Vương. Nhưng khi lắng nghe lời kể của nhiều người trong làng về những truyền thuyết thì hóa ra đây không phải miếu được dân lập ra sau này để thờ vua Hùng mà là miếu do chính vua Hùng dựng nên từ thời của mình để ghi nhớ một câu chuyện huyền thoại có gắn bó giữa vua Hùng với người dân làng.

Người xưa kể lại, ngày xưa Vua Hùng tập trung quân tại vùng này để rèn luyện sức khỏe. Trong một dịp đưa vợ cùng đi vi hành, khi ngang qua vùng này, vợ vua bị chuyển dạ, không làm cách nào để bà bớt đau. Lúc ấy, có một người hầu nữ tâu với nhà vua rằng vùng này có người con gái múa dẻo, hát hay tên là Quế Hoa, nhà vua bèn cho người đến đón Quế Hoa để hát mua vui cho vợ mình. Tiếng hát và múa của nàng Quế Hoa đến đâu, bà liền an thai đến đấy. Để ghi nhớ sự kiện này, vua đặt tên cho vùng này là làng An Thai, bây giờ gọi chệch đi là làng An Thái.

Hung Vuong to mieu.2

Các cụ làng còn bảo trong ngọc phả làng An Thái có chép rằng khi ấy vua Hùng rất khen ngợi nàng Quế Hoa mới bảo các Mỵ Nương học điệu hát đấy để hát các dịp đầu xuân, gọi là Hát Xuân, nhưng vì Xuân là tên vợ vua nên gọi lệch đi là Xoan, tục Hát Xoan bắt đầu từ đấy.

Ngày xưa miếu này còn được gọi là Ngọc Am hay là Miếu Cấm. Có lẽ gọi thế để cảm nhận sự giao hòa cùng với sự linh thiêng trời đất của vùng này. Khi bước qua cửa ngoài vào bên trong sẽ nhận thấy một ngôi nhà gỗ cổ, kiến trúc độc đáo. Dường như giữa bên trong và bên ngoài là 2 hình thức kiến trúc khác hẳn nhau, thể hiện 2 khoảng thời gian lịch sử ở những thời đại khác hẳn nhau. Tường bao ngoài là loại gạch mới, mái trước có vẻ cổ hơn, mái sau là ngói hoàn toàn mới. Điều này chứng tỏ ngay phía ngoài đã trải qua nhiều lần trùng tu, bảo vệ khác nhau. Sở dĩ có sự khác biệt như thế này là do ngôi miếu nguyên bản cổ kính lâu đời quá, cột gỗ hai đầu hồi đã bị mọt tước cả ra, các cụ trong ban quản lý di tích lo lắng bèn xây nhà lợp ngói trùm ngoài để bảo vệ ngôi miếu.

Gọi là miếu nên không to lớn, chiều dài chỉ 5m, chiều rộng 3m, 4 góc là 4 cột lim to, mặt sàn cách mặt đất 80cm. Trong miếu có 3 bát hương cổ đúc bằng đất nung, 3 ngai thờ 3 vị Ất Sơn Đại Vương, Viễn Sơn Đại Vương và Át Đạo Đại Vương. Câu đối hai bên miếu có ghi “Minh Thanh Trương Nhật Nguyệt – Miếu Mạo Thọ Sơn Hà” (Tức: Tiếng Linh đến trời đất – Miếu Mạo sống cùng sông núi)

Dù tất cả những câu chuyện kể ra không được ghi chép trong sử sách, nhưng với sự hiện diện sừng sững cùng thời gian của ngôi miếu tổ Hùng Vương này, cùng với câu chuyện truyền thuyết về Hát Xoan đã làm đậm đà thêm nét bản sắc rất riêng của văn hóa vùng đất tổ cội nguồn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s