Bảo tàng đá trong chùa Đồng Ngọ

Các hiện vật mà nhà chùa mang về đây, lúc đầu thì chưa có sự bố trí, sau này thì nhà chùa bố trí như là tường rào, rồi để sắp xếp ra các chỗ để cho bà con du khách đến nhìn thấy, đây là những cái cối đá giò, cối đá giã gạo, đây là cái phiến đá, cầu đá, rồi những quả trục, thì tạo ra những cảnh quan cho bà con, du khách đến tham gia lễ phật có được 1 tâm hồn thanh thản , biết được các hiện vật này đã làm ra các hạt thóc nuôi sống con người.

Văn minh lúa nước là nền văn minh đã có từ hàng ngàn năm qua. Những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, văn hóa nông nghiệp, thậm chí cả thói quen sinh hoạt thường ngày của dân tộc Việt Nam cũng đã gắn liền hàng ngàn năm với nền văn minh ấy.

Trải qua từng giai đoạn lịch sử, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến mới đặc biệt trong phương thức sản xuất và nông cụ sản xuất. Tuy nhiên, những minh chứng và những giá trị văn hóa đã gắn bó qua từng thời kỳ vẫn luôn luôn được gìn giữ và hiện hữu cho đến ngày nay.

Chùa Đồng Ngọ là một di tích lịch sử hiện đang lưu giữ những hiện vật bằng đá là minh chứng cho một thời kỳ văn hóa nông nghiệp với những nông cụ thô sơ trong đời sống lao động thường ngày của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây được coi là một bảo tàng đá cổ với nhiều hiện vật quý giá bậc nhất ở Việt Nam

Không quá lộng lẫy và khang trang như bao ngôi chùa khác, Chùa Đồng Ngọ- ngôi chùa cổ nhất tỉnh Hải Dương hiện lên thâm nghiêm và thanh bình trong ngôi làng nhỏ thuộc xã Tiền Tiến- huyện Thanh Hà. Nơi đây hơn 25 năm về trước, câu chuyện của một nhà sư Thích Thanh Thắng- trụ trì chùa Đồng Ngọ lặn lội kiếm tìm đồ đá cổ khắp các vùng Bắc Bộ được hé mở cho những ai muốn tìm hiểu về ngôi chùa tự cổ này.

Chùa Đồng Ngọ được Khuông Việt Quốc Sư xây dựng năm 971 theo chiếu chỉ của vua Đinh Tiên Hoàng. Đây là ngôi chùa có tuổi đời hơn 1000 năm – tính đến nay tuổi đời còn lâu hơn cả chùa Một Cột ở Hà Nội.

Chua Dong Ngo.1

Ngôi chùa mang dấu ấn kiến trúc cuối thế kỷ XVII. Chùa được chia làm ba khu chính theo thứ tự thời gian:  Nhà thờ tổ – Tòa tháp Cửu Phẩm Liên Hoa – Nhà Tam Bảo.

Độc đáo nhất là Tòa Cửu Phẩm Liên Hoa được thiền sư Chân Nguyên thuộc Thiền phái Trúc Lâm đã tôn tạo xây dựng vào mùa xuân năm Nhâm Thân (tức năm 1692) thời vua Lê Hy Tông. Tòa Cửu phẩm Liên Hoa cao hơn 5 mét, 9 tầng, mặt cắt 6 cạnh đều, mỗi mặt gắn 3 pho tượng Phật. Tổng số tượng phật của tháp là 163, được đặt chính giữa tòa Cửu phẩm vuông, 2 tầng 8 mái. Đây là tác phẩm nghệ thuật được chế tạo từ gỗ có giá trị đỉnh cao của Phật Giáo Việt Nam từ thế kỷ XVII.  Ở Việt Nam hiện nay, Tòa cửu phẩm chỉ còn lại ở duy nhất 3 ngôi chùa: Chùa Đồng Ngọ ở Thanh Hà, chùa Giám ở Cẩm Sơn, và chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh.

Hai cây đại cổ trước nhà Tổ cũng được thiền Sư Chân Nguyên trồng từ thế kỷ thứ 13, nay đã hơn 700 năm tuổi cũng là minh chứng rõ rệt nhất cho sự cổ kính của ngôi chùa.

Ngoài việc chứa đựng những vật có giá trị về mặt tâm linh, chùa Đồng Ngọ còn được biết đến là một bảo tàng gồm những hiện vật và công cụ bằng đá rất đồ sộ.

Bậc thềm đá và những chiếc chân cột đá của tòa Cửu Phẩm Liên Hoa được coi là một cổ vật đá có niên đại đã hơn 300 năm. Bề mặt đá có những chỗ đã bị bào mòn nhẵn bóng. Những chiếc chân cột đá hình hoa sen vẫn vững chãi chống đỡ cho những trụ cột gỗ lớn của tòa tháp. Sau nhiều lần tòa tháp được trùng tu, chỉ duy nhất bậc thềm đá và những chân cột đá được giữ nguyên hiện trạng từ hơn 300 năm trước.

Những tấm bia đá trong chùa khắc bút tích từ thời nhà Mạc, nhà Lê vẫn hiên ngang qua hơn bốn thế kỷ . Đây là nơi lưu danh những đóng góp của nhân dân trong suốt quá trình xây dựng và trùng tu ngôi chùa.

Đặc biệt, chiếc thống đá đựng nước nặng trên 2 tấn có niên đại từ thời Tiền Lê. Đây là một trong số ít những chiếc thống đá còn lưu lại cho đến ngày nay.

Năm 1988, sư thầy Thích Thanh Thắng chính thức trụ trì chùa Đồng Ngọ. Hơn 25 năm, sau những buổi tụng kinh, giảng đạo, cầu siêu, người sư thầy đều dành hết thời gian còn lại chăm sóc cho cảnh quan của ngôi chùa. Khi đến thăm chùa Đồng Ngọ, ai ai cũng đều ngỡ ngàng và trầm trồ về những đồ đá mà nhà sư sưu tầm và trang trí không chỉ sáng tạo mà đã đưa được cả một quần thể không gian văn hóa của đồng bằng Châu thổ Sông Hồng đại diện nền nông nghiệp lúa nước vùng Bắc Bộ vào trong khuôn viên của ngôi chùa. Đây quả là một tâm huyết, sự đam mê của một vị sư thầy hay chính là sự ẩn hình của một người con đã sinh ra lớn lên thấm đẫm nhọc nhằn và nền văn hóa của vùng đất xứ Đông phiên dậu ngoại ô Kinh Đô Thăng Long này.

Bước chân qua cổng chùa là một hồ sen nhỏ được trang trí bằng những chiếc cối đá và tai cối, tạo cho chiếc hồ có một đường viền mềm mại và độc đáo.

Xưa kia, cối đá chính là vật dụng mà bất kỳ gia đình nào ở vùng nông thôn Bắc bộ cũng cần có. Cối đá với chiếc chày tay bằng gỗ để giã thóc gạo, muối vừng, lạc, thịt….. Người xưa dùng toàn bộ sức nặng cơ thể nhún người bật tai cối lên rồi nhả ra để giã xuống hạt thóc.

Cùng bộ với những chiếc cối đá là những chiếc mâm cối được đặt bên trên mặt cối giúp tránh cho những hạt gạo, hạt đậu khỏi bị bắn ra ngoài trong quá trình giã. Những chiếc cối đá, mâm cối, tai cối ở chùa hiện nay có niên đại ít nhất là sáu, bảy chục năm cho đến trên trăm năm tuổi. Hiện nay, có hơn 600 chiếc cối đá đang được trưng bày tại chùa Đồng Ngọ với đủ các kích cỡ to nhỏ khác nhau tạo nên một bộ sưu tầm đồ sộ về cối đá duy nhất ở Việt Nam

Bức tường rào quanh chùa được ghép bởi hàng trăm các trục đá hình bầu dục tạo điểm nhấn cho khuôn viên chùa Đồng Ngọ. Đây là những chiếc trục đá, nằm trong bộ cối giã gạo đạp chân, rất phổ biến ở vùng Bắc bộ thời trước Cách mạng tháng Tám. Mỗi chiếc trục cán lúa cổ ấy là một khối đá hình tròn hoặc hình bầu dục, dài gần một thước, được đục hai đầu để cho hai thanh sắt cỡ lớn vào. Sau đó, người nông dân buộc dây vào hai thanh sắt đó cán lăn qua lăn lại trên những bông lúa đã gặt để hạt thóc rời ra.

Có thể nói đây là loại cổ vật có số lượng nhiều nhất trong bộ sưu tập của nhà sư Thích Thanh Thắng Phải có đến  bảy trăm chiếc trục cán lúa như vậy được xếp đặt ngay từ ngoài cổng, trong sân chùa, hoặc quanh gốc cây cổ thụ, giếng.

Những quả trục lăn lúa đã hơn 100 năm tuổi, không biết bao nhiêu thóc của bao nhiêu mẫu ruộng đã được lăn qua nó khiến cho thân trục trở lên nhẵn bóng. Bởi

Chua Dong Ngo.2

thẫm đẫm không biết bao mồ hôi công sức của ông cha nên chúng càng trở lên quý giá biết bao.

Mỗi hiện vật đá đang hiện hữu ở chùa Đồng Ngọ đều có giá trị, ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử, phác họa lại cả một thời kỳ dài cuộc sống lao động, sinh hoạt của người dân vùng đồng bằng Châu Thổ Sông Hồng.

Đặc biệt, trong bộ sưu tập đá cổ của nhà sư Thích Thanh Thắng, có chiếc cầu đá được mang về đây cũng có niên đại 340 năm. Những chiếc cột đá đỡ lấy nhịp cầu được chạm khắc tinh xảo 4 biểu tượng của 4 con vật Thủy Tộc : cá chép, cua, rùa và rồng.

Cầu đá là đặc trưng của nhiều vùng nông thôn miền Bắc. Trước đây, những cây cầu đá thường nối đôi bờ đầm, ngòi để người dân qua lại. Cầu đá ngày ấy không chỉ “cõng” trên mình khách bộ hành qua lại, những người gánh lúa, người  mang  vác cày đưa trâu ra đồng mà còn là nơi hò hẹn của nhiều đôi trai gái; là nơi mà những người trẻ trong làng thường tập trung trò chuyện dưới ánh trăng.

Để làm một chiếc cầu đá cũng tốn thời gian đến vài năm và công cuộc đưa chiếc cầu đá về chùa cũng tốn không ít mồ hôi, công sức của nhà sư Thích Thanh Thắng

Quá trình kiếm tìm và đưa cầu đá về chùa chỉ là một trong những câu chuyện về những khó khăn, vất vả của thầy Thích Thanh Thắng trong suốt 25 năm hành trình sưu tầm đá cổ.

Tính đến nay, bộ sưu tập đồ đá của thầy đã lên đến xấp xỉ 2.000 hiện vật. Năm 2005, đại đức Thích Thanh Thắng được Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hải Dương trao tặng bằng khen vì đã có đóng góp trong việc gìn giữ những giá trị văn hóa cổ.

Dưới ánh dương chiều trong không gian yên tĩnh càng tôn thêm sự trang nghiêm ngôi chùa thêm thanh tịnh, những hiện vật bằng đá cổ hàng trăm năm hiện sự  hữu cả một thế hệ cha ông trong cuộc sống trải mình bên những phiến đá, tiếng cối chày giã gạo truyền đi những âm thanh của ngày mùa trong khắp làng quê, hay tiếng vỏ thóc đang rì rụi trà mài từ các trục đá để tách bỏ trong ra những hạt gạo trắng thấm đấm mồ hôi của những người nông dân. Những đồ vật đá này trước đây đã nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác chúng ta tưởng đã bị lãng quên và vứt bỏ thì nay đã được tìm về, lưu truyền và tái hiện lại ngay chính trong ngôi chùa cổ hơn 1000 năm tuổi để thế hệ nghìn năm sau vẫn tiếp tục được chứng kiến và cảm nhận những giá trị văn hóa Việt nghìn năm không phai dấu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s