Lăng ông bà Chiểu

Lăng ông bà Chiểu, hay còn gọi là lăng Ông. Là cách gọi phổ biến của người dân địa phương với miếu Thượng Công, nơi thờ Đức Thượng Công, danh xưng dân gian phong cho Tả Quân Lê Văn Duyệt. Lăng nằm kế bên khu Chợ bà Chiểu nên mỗi khi nhắc đến tên chợ này là nghĩ ngay đến lăng ông. Rất nhiều người nơi khác thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông và bà tên Chiểu.

Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vàm Chà Lọt, thuộc làng Hoà Khánh, nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại, là thân sinh của Lê Văn Duyệt. Cảm ơn vì được cưu mang, Lê Văn Duyệt được chúa Nguyễn tuyển dụng làm Thái giám, lãnh nhiệm vụ bảo vệ cung quyến, khi đó ông mới 17 tuổi. Lê Văn Duyệt sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở gần Tiền Giang. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé nhưng có sức mạnh hơn người, từng được coi là Vũ Hổ Thướng của vùng đất Gia Định. Đến năm 18 tuổi, Lê Văn Duyệt gia nhập quân đội của Nguyễn Ánh, chống lại nhà Tây Sơn. Sau khi nhà Nguyễn thành lập, ông trở thành một vị quan, tướng quân, giữ nhiều chức vụ quan trọng của chiều đình, nhiều lần công cán cả ở phía Bắc thành và hai lần được cử làm Tổng trấn Gia Định thành. Việc cai trị của ông đã góp công lớn giúp ổn định và phát triển khu vực Nam bộ Việt Nam, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, thành một khu vực bình yên và giàu có. Năm 1822, Clar Frog, người cầm đầu phái bộ ngoại giao của Toàn quền Ấn Độ ghé vào Bến Nghé và Gia Định, được yết kiến Lê Văn Duyệt đã viết về ông như sau: “Con người này ít học nhưng lạ lùng thay lại có cái nhìn cởi mở hơn nhiều đại thần và cả nhà vua học rộng, lầu lầu kinh sử của Khổng Giáo. Ngài sống thanh liêm, mong muốn mở mang đất Gia Định trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng Biển Đông.” Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, triều đình truy tặng ông chức “Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công”, thụy là “Oai Nghị”.

Lang ong ba Chieu.1

Lê Văn Duyệt trên mặt trước tờ 100 đồng in năm 1966 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Lăng ông bà Chiểu, hay còn gọi là lăng Ông. Là cách gọi phổ biến của người dân địa phương với miếu Thượng Công, nơi thờ Đức Thượng Công, danh xưng dân gian phong cho Tả Quân Lê Văn Duyệt. Lăng ông rộng khoảng 18500m2 trên một gò đất cao, xưa thuộc làng Hòa Bình, tỉnh Gia Định, nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Vũ Tùng ngày nay. Lăng nằm kế bên khu Chợ bà Chiểu nên mỗi khi nhắc đến tên chợ này là nghĩ ngay đến lăng ông. Rất nhiều người nơi khác thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông và bà tên Chiểu.

Theo nhà văn Sơn Nam, tên bà Chiểu là tên vùng đất chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. “Chiểu” nghĩa là ao nước thiên nhiên. “Bà Chiểu” là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Cổng lăng trổ ra bốn hướng, phía Nam là cổng lớn Tam quan nổi tiếng với hàng đại tự nổi bằng chữ Hán: “Thượng công miếu”, mở ra đường Vũ Tùng. Cổng này một thời được chọn làm hình ảnh tiêu biểu của đất Sài Gòn Gia Định. Lăng nằm trên gò đất cao hình lung rùa, được cho là vị thế đắc địa vì theo quan niệm địa lý Đông phương học, nơi được chọn đặt âm phần của Quan tổng chấn nằm vào Long mạch, hợp với Địa linh nhân kiệt, vì thế sẽ mang tài lộc, sự an lạc đời đời cho dân chúng cư ngụ trong vùng. Khu lăng được xây dựng trên trục đường chính từ cổng Tam quan ở phía Nam vào qua một khu vườn cảnh sẽ tới nhà bia, nơi đặt bia đá ghi công đức Tả quân, ở giữa là mộ Tả quân và vợ có bình phong và tường hoa bao quanh. Cuối cùng là khu miếu thờ. Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương, bên trong có tấm bia đá khắc văn bia chữ Hán đề “Lê công miếu bia” (tức là Bia dựng tại miếu thời Lê công), do Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải viết năm Giáp Ngọ năm 1894. Nội dung văn bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân.

Lang ong ba Chieu.2

Đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong Lăng Ông Bà Chiểu.

Toàn thể khu mộ được xây bằng một loại vữa hợp chất. Phần mộ gồm hai ngôi mộ song táng: Tả quân và vợ là Đỗ Thị Phận. Hai ngôi mộ được đặt song song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc, úp trên bệ lớn hình chữ nhật. Trước mộ có một khoảnh sân nhỏ để làm lễ. Từ nơi nhà bia nhìn vào, mộ Lê Văn Duyệt phía bên phải. Bao quanh mộ là một bức tường bằng đá ong dày hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt nhang đèn.

Cách khu lăng mộ một khoảng rân rộng là khu vực “Thượng công linh miếu”, nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Lê Văn Duyệt. Bố cục của miếu bao gồm tiền điện, trung điện và chính điện. Mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một khoảng sân lộ thiên, gọi là “sân thiên tỉnh” (tức giếng trời). Đối xứng hai bên trục nhà chính là hai dãy Đông lang và Tây lang.

Công trình mang dấu ấn của lối kiến trúc, miếu thờ nhà Nguyễn, với những mái “trùng thiềm điệp ốc” (hay còn gọi là “trùng lương trùng thiềm” là kiểu nhà kép hai mái trên một nền, mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà) và kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng. Ngoài ra, nhờ kỹ thuật chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, khảm sành sứ mà nơi thờ cúng này còn giữ được vẻ cổ kính cho đến ngày nay.

Lang ong ba Chieu.3

Mộ Lê Văn Duyệt và vợ trong Lăng ông bà Chiểu

Nhờ vào tài năng điêu luyện của các nghệ nhân Việt Nam mà đồ án trang trí tại đây trở nên rất sinh động, gần gũi vwosi cuộc sống dân gian. Những hoa văn trang trí khu lăng mộ vừa mang ý nghĩa phản ánh hiện thực, vừa biểu lộ niềm tin và vui chúc phúc.

Nơi chính điện có bức tượng bằng đồng của Tả quân Lê Văn Duyệt. Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65m, nặng 3 tấn do nhà điêu khác Phạm Văn Hạ thực hiện. Nơi trung điện, ở giữa thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, bên phải thờ Thiếu phó Lê Chất, bên trái thờ Kinh lượng Phan Thanh Giản. Hàng năm, tại lăng đều có tổ chức lễ giỗ Lê Văn Duyệt long trọng vào các ngày 29 và 30 tháng 7 và mùng 1 tháng 8 âm lịch.

Tả quân Lê Văn Duyệt sinh thời là bậc kỳ tài quân sự. Ông là nhà chính trị song toàn, một trong những khai quốc công thần của triều Nguyễn. Ở cương vị Tổng chấn, Lê Văn Duyệt đã đóng góp công trạng rất lớn vào việc bảo vệ và phát triển bờ cõi phía Nam của Tổ quốc. Những quyết sách cách tân táo bạo, tuy mâu thuẫn với quan điểm của triều Nguyễn lúc bấy giờ nhưng lại cho thấy ông là người có tầm nhìn xa trông rộng, nhất là qua việc phát triển và chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế, con kênh mang tầm chiến lược quan trọng vào bậc nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long, đưa nền kinh tế đặc khu ngày càng đạt đến sự thịnh vượng. Từ lâu, hình tượng tả quân Lê Văn Duyệt đã đi vào tâm thức của người dân Sài Gòn Gia Định và miền Nam nước Việt. Vì thế, hàng năm, dân chúng vẫn thường tổ chức ngày lễ giỗ Đức thượng công và lễ khai ấn đầu năm để tưởng nhớ đến công lao của ông.

Cho đến nay, lịch sử tuy vẫn có những góc nhìn khác nhau về cuộc đời Lê Văn Duyệt, nhưng công lao của ông trong việc tạo dựng nên một vùng thành Gia Định tấp nập và hưng thịnh thủa xưa thì ai ai cũng phải kính nể. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc, Thượng công miếu vẫn sừng sững uy nghiêm, minh chứng cho một thời kỳ mở cõi hào hùng của dân tộc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s