Đâm Đuống

Trên vùng đất Tổ, ngoài dân tộc Việt còn các dân tộc anh em khác như dân tộc Cao Lan ở Đoan Hùng, Lập Thạch, dân tộc Mường ở Yên Lập, Thanh Sơn .v.v… Mỗi dân tộc có một số lệ tục khác nhau. Đồng bào Mường có tục đâm đuống. Đâm đuống thường được tổ chức vào dịp tết, hội mùa, cưới xin hay dựng nhà.

Trong những ngày hội làng của bản Mường thường vang lên những âm thanh va đập nhịp nhàng từ những dụng cụ nông nghiệp, thăng hoa lên thành âm nhạc cổ truyền, thành phong tục tập quán đặc trưng vùng miền. Tiếng trầm tiếng bổng đan hòa vào nhau đi bè cùng với đàn cồng, đàn chiêng rộn ràng vang động cả núi rừng,đánh thức vạn vật sinh sôi nẩy nở cho đời.

Người Mường từ thuở xa xưa đã sinh sống bằng nghề trồng lúa.

e1d480dfb51d2440bd588e1d80839a72

Lịch sử đâm đuống

Trống đồng, khạp đồng của người Mường tìm thấy từ thời các vua Hùng dựng nước đều có hình bông lúa làm biểu tượng cho sự ấm no đủ đầy của con người lấy nghề nông làm gốc, từ thuở quốc gia nguồn cội ấy.
Đuống chính là hình ảnh hiện thực về một chiếc cối giã gạo của người Mường mang đầy tính lịch sử về một dân tộc cội nguồn. Cối đuống là một thân gỗ đục rỗng lòng,dài từ một đến hai sải tay, đủ để mỗi bên có thể đứng từ hai đến 8 người,tay cầm những chiếc chầy giống như chầy giã gạo đâm từ trên xuống.

Bởi thế, khi gĩa gạo, người Mường gọi đó là đâm đuống hay chàm đuống. Cách tổ chức đâm đuống xem ra chẳng khác gì cách tổ chức đâm trống đồng ở thời Văn Lang của các vua Hùng.

Thời ấy, người Việt cổ gọi đánh trống đồng là “chàm thau” có nghĩa là đâm trống.Vì cách đánh trống thời ấy là cầm dùi đâm từ trên xuống mặt trống theo chiều thẳng đứng, khác với đánh trống da trâu sau này, chiếc dùi được cầm ngang.

Bởi thế, đâm đuống được xem như một vốn di sản văn hóa song song với trống đồng của người Việt cổ trên quê hương đất tổ Hùng Vương và hình ảnh của nó đã được tạc khắc như một dấu ấn thời gian trên mặt trống đồng Đông Sơn cách nay có tới mấy nghìn năm lịch sử .

Hội đền Hùng hàng năm không thể thiếu tiết mục chàm đuống với chàm thau của đồng bào Mường đất tổ.
Trong nhóm người đâm trống đồng xưa có một người đứng đầu gọi là “người đi cái” cầm hai dùi, đâm xuống núm trống hai tiếng một. Các trai gái từng cặp mỗi người cầm một dùi gọi là “người đi con”, đâm vào các vành trống theo lối cái hai, con một hoặc tùy theo phong tục yêu cầu ở mỗi địa phương mà làm nhịp.

Đâm đuống cũng phải chọn người cầm trịch làm cái. Người đi cái giã nhịp đầu để người đi con tùy theo quy định mà theo.

Hình ảnh cây lúa nuôi sống con người đã trở thành hạt nhân của tín ngưỡng phồn thực cầu mùa màng tươi tốt, cầu sinh sôi nẩy nở thịnh vượng cho đời.

Thực ra, trong lịch sử, người Mường thường coi nước là sức mạnh, là cái gốc của sự sống.Vì thế, thoạt đầu, người Mường có loại cối giã gạo hoạt động nhờ dòng chẩy của nước.

Người Mường còn bảo, cái cối nước chỉ giã vài cum lúa cũng hết cả ngày, không đủ cho cả gia đình đông người, không đủ gạo để dự trữ khi có việc. Phải có thêm cái cối đuống mà làm thôi.

Đâm đuống với hình ảnh chầy cối giã thóc thành gạo ,giống như biểu tượng kết hợp âm dương hài hòa, là cái gốc để sinh sôi nẩy nở, nên rất tự nhiên mà đi vào tín ngưỡng dân gian của người Mường, rồi từ đó nẩy sinh những phong tục kiêng kỵ theo cách riêng của mình.

Tục đâm đuống tổ chức vào đêm giao thừa là một nghi lễ tín ngưỡng mà người Mường muốn tác động đến mùa màng và đời sống xã hội trong suốt cả năm. Đây là một nghi lễ được coi là rất thiêng liêng được cả bản thực hiện nghiêm túc theo tục lệ.

Từ ngày 25 tết người Mường đã rửa cối cho sạch gác lên. Cho đến trước giờ hành lễ giao thừa thì không ai giã đuống cả. Người Mường nghĩ, tết mà còn phải hì hụi giã đuống thì không phải là điều tốt đâu, cả năm sẽ nghèo đói khổ cực đấy. Ngày tết thần rừng thần núi cũng phải nghỉ, đâm đuống là làm kinh động thần rừng, thần núi, cả năm sẽ chẳng được may mắn làm ăn đâu.

Ngày 30 tết chủ nhà phải chuẩn bị sẵn sàng chu đáo cho lễ đâm đuống lúc giao thừa. Họ đón đợi giây phút ấy bằng tất cả sự hy vọng, gửi gắm niềm tin một cách chân thành vào từng công việc chuẩn bị tỉ mỉ của mình. Đấy là giờ phút linh thiêng giao hòa trời đất, thần linh cảm được khát vọng của con người, cả làng cả bản cùng hướng tới.

1511179_643483249044672_1748298099_n

Nghệ thuật đâm đuống

Người đâm đuống đầu tiên trong năm là người đóng vai trò quan trọng cho sự thịnh vượng năm mới của gia đình. Tất cả đều chờ cái giờ phút được đâm đuống ấy….

Sau giao thừa, chừng 3 giờ sáng…

Bà chủ nhà khẽ khàng lay nhẹ con dâu, con gái dậy. Nghe bảo tục lệ thời xưa là khi đánh thức phải kiêng không được gọi, cũng không được lật chăn chiếu.

Bà chủ sẽ không đâm đuống khi chưa nghe thấy tiếng trống động thổ, mở cửa rừng từ phía nhà lang hay miếu xóm.

Khi nghe trống hiệu phía nhà lang rồi cũng phải chờ cho dứt tiếng trống mới được xuống đuống. Ai xuống sớm hơn sẽ bị phạt. Ai xuống đuống nối khớp ngay sau tiếng trống nhà lang sẽ được thưởng, coi như cả năm gia đình may mắn. Đâm đuống xong, bà chủ lấy ít thóc đổ vào sàng để xẩy tượng trưng.Vừa làm vừa nói “Năm mới ăn nên làm ra. Hột nào lép thì đi,hột nào chắc ở lại nhà tôi này!”

Đêm giao thừa,cả bản rộn ràng tiếng đuống,tràn ngập hơi thở cuộc sống mang đầy bản sắc riêng biệt miền trung du.Lễ đuống đầu năm như hội khai mở công việc mới mẻ của một năm mới, để sau đó mọi người có thể lên nương,vào rừng thu lượm lâm sản, săn bắt.

Dân bản còn coi chàm đuống như một âm thanh báo hiệu mỗi khi nhà có tang gia ,cưới hỏi ,dựng nhà mới hay thu hoạch xong.Đó là tục lệ gắn kết mối quan hệ cá nhân với cộng đồng cả bản.

Đâm đuống không chỉ là tục lệ của ngươi Mường mà còn có ở rất nhiều các dân tộc vùng cao khác.
Lắng nghe,cảm nhận tiếng đuống của người Mường khi gõ vào lòng hay thành sẽ nhận ra những âm thanh trầm bổng khác nhau.Chính những âm thanh đó được người Mường thăng hoa lên trong cảm xúc thành nghệ thuật diễn tấu đâm đuống.

Chàm đuống yêu cầu phải có kỹ thuật, có nhiều bài bản và cách đánh.Nó thể hiện tinh thần các đôi trai gái đua tài ,hòa nhịp với nhau mang hơi thở rộn ràng của một cuộc sống lao động.

Đuống được đâm theo nhịp ba,rồi lại nhịp hai,sau đó là xen lẫn cả hai nhịp.Bài đuống của người Mường có bốn điệu, với cách tạo nhịp điệu khác nhau, phù hợp với ý nghĩa thông báo của mỗi tục lệ.

Ngày nay chức năng giã gạo bằng đuống đã giảm đi nhiều nhưng đuống vẫn tồn tại trong mỗi nhà, trong các lễ hội như một nét độc đáo, bản sắc dân tộc Mường.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s