Bảo vật chùa Trúc Lâm

Giữa không gian thanh tịnh, chùa Trúc Lâm tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc xã Thủy Xuân cách trung tâm thành phố Huế về phía nam khoảng 7 km đường bộ. Trúc Lâm không phải là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, nhưng là nơi hội tụ của nhiều vị trụ trì danh tiếng. Đây cũng là nơi sở hữu nhiều báu vật thuộc vào hàng quốc bảo vốn thu hút các nhà nghiên cứu, sưu tầm cổ vật khắp nơi cố công tìm hiểu về chúng. Một trong số đó, là bảo vật mà quan binh nhà Nguyễn mang từ đất Bắc trở vào Huế: Bản kinh Kim Cang (hay còn được gọi là bản kinh Kim Cương) thêu bằng chỉ ngũ sắc.

Ông Hồ Tấn Phan – một nhà sưu tầm cổ vật – nhà nghiên cứu văn hóa Huế đã dành rất nhiều tâm sức để nghiên cứu về những bảo vật được cất giữ tại ngôi chùa này.

Toàn bộ bản kinh gồm hơn 7000 chữ Hán được thêu tay bằng chỉ ngũ sắc trên nền gấm và lụa đào, dài 2,47m, rộng 23,4cm. Cho đến nay, đây là kỷ lục cho bộ Kinh Phật thêu tay cổ trên lụa dài nhất Việt Nam.

Theo Ông Hồ Tấn Phan – một nhà sưu tầm cổ vật chia sẻ:

” Tôi chưa từng được nghe cũng chưa từng được chứng kiến trực tiếp một bản kinh nào thêu một cách công phu và đồ sộ thế này. Cùng với những bảo vật khác, bản kinh Kim Cang hiện được bảo mật hết sức nghiêm ngặt tại chùa Trúc Lâm. Trước đó, nó đã trải qua chặng đường khá ly kì…”

Sau khi được mang vào Huế, có một thời gian, bản kinh kim cương thêu này được cất giữ tại Khương Ninh Các thuộc Hoàng Thành Huế. Tuy nhiên, đến thời Khải Định (1916-1924), bản kinh này đã bị thất lạc…

Lần theo chặng đường đó, nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan tìm đến chùa Hồng Ân để tìm hiểu về ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, người có công lớn trong việc tìm ra bản kinh quý…

Nhận định bản kinh Kim Cang thêu tay là một pháp bảo hết sức quý giá, Ni trưởng Diệu Không sau đó truyền cho các đệ tử cố công truy tìm bản kinh Kim Cang bị thất lạc trong dân gian…

Sau khi có được bản kinh, ni trưởng Diệu Không đã giao lại cho hoà thượng Giác Nhiên cất giữ bảo quản tại Chùa Tây Thiên. Tuy nhiên, thời gian bản kinh lưu lại tại đây cũng không lâu…

Như vậy, trải qua chặng đường dài lưu lạc, bản kinh tìm đến chùa Trúc Lâm, như sự Tùy duyên của đạo Phật, nơi đâu duyên lành thì bảo vật sẽ tìm đến, cuối cùng bản kinh được đặt trang trọng ngay chính giữa, trước bàn thờ Phật tổ trong ngôi chùa Trúc Lâm đại tự và được gìn giữ đến ngày nay. Thế nhưng vì sao bản kinh này lại được xem là một pháp bảo vô giá?

164-Chi ngu sac theu tren nen gam kinh Kim cuong

Theo nhiều nhà nghiên cứu, bản kinh Kim Cang thêu là một văn vật đặc biệt nói riêng với Phật giáo và nói chung với nền văn hóa VN bởi trong vô số các tàng kinh Phật, kinh Kim Cang là một trong những bộ kinh có ý nghĩa thâm sâu được nhiều người ca tụng và đã được nhiều lần dịch thuật ra thành ngôn ngữ bản địa của từng dân tộc để Phật tử khắp nơi trực tiếp tham cứu và tu hành.

Bản kinh Kim Cang tại chùa Trúc Lâm được coi là một quốc bảo không chỉ bởi giá trị lịch sử, mà còn ở giá trị nghê thuật. Nội dung bản kinh được chia làm 3 phần. Phần đầu gồm 2 bài tựa, phần chính chiếm phần lớn của bản kinh là phần kinh văn, phần cuối là phẩn bản hậu nói rõ về nguồn gốc bản kinh.

Trong phần đầu bản kinh với hai bài tựa. Bài tựa thứ nhất có câu mở đầu là “Thái thượng hoàng đế ngự chế… ”, còn bài thứ hai ghi rõ “Cảnh Thịnh bát niên thập nhất nguyệt sơ nhất nhật”, tức ngày 1 tháng 11 năm Cảnh Thịnh thứ tám (theo Dương lịch là ngày 16-12-1800) cho biết thời gian hoàn thành bản kinh này.

Dựa vào những thông tin này, giới nghiên cứu cho rằng bài tựa thứ nhất chính là của vua Quang Trung và bài tựa thứ hai là của vua Cảnh Thịnh. Điều này cho thấy bản kinh càng có giá trị về mặt văn hóa và lịch sử vì những hiện vật văn hóa thời Tây Sơn phần lớn đã bị tàn phá sau biến cố thay đổi triều đại.

Nội dung của hai bài tựa này cho thấy sự ngưỡng mộ của hai vị vua triều Tây Sơn đối với kinh kim cang, ca tụng bản kinh chứa đựng lời dạy thâm sâu của nhà Phật. Nội dụng chính của bản kinh là phần kinh văn, tức là thêu lại nguyên văn vào khoảng 7 nghìn chữ của nội dung kinh kim cang.

Cuối cùng, trong phần hậu bạt ghi rõ về việc thực hiện bản kinh thêu của Tỳ kheo ni Diệu Tâm, khi đó là trụ trì chùa Sài Sơn (tức chùa Thầy ngày nay) tại Sơn Tây với mục  đích để cúng dường Đức Phật và cung tiến thân phụ là Nguyễn Gia tướng công và thân mẫu là Quỳnh Liên công chúa Trịnh Ngọc Tuân, cầu cho ông bà, tổ tiên được siêu thoát.

Theo Ông Hồ Tấn Phan – một nhà sưu tầm cổ vật chia sẻ:

“Cứ mỗi lần thêu một chữ là niệm 10 lời kinh văn của kinh kim cang. Bản kinh có tới 7 nghìn chữ, có thể thấy sư bà Diệu tâm đã để công sức làm công việc này trong một thời gian lâu dài. Chính điều đó đã nói lên tâm đức của sư bà. Vì những lý do này, hiện nay bản kinh được xem như một Pháp bảo của Phật giáo…”

Trải qua những biến cố lưu lạc trong lịch sử, nhưng bản kinh vẫn giữ được gần như nguyên vẹn vẻ đẹp được thêu bằng chỉ ngũ sắc mà theo nhiều nhà nghiên cứu là độc nhất vô nhị. Câu hỏi được đặt ra là: vì sao bản kinh  này được thêu bằng chỉ ngũ sắc mà ko phải một màu thuần tuý?

Theo Ông Hồ Tấn Phan – một nhà sưu tầm cổ vật cho biết:

“Có hai lý do mà bản kinh này được thêu bằng chỉ ngũ sắc:

Thứ nhất mang tính chất mỹ thuật,nếu thêu bằng chỉ ngũ săc sẽ nâng cao giá trị thập nhị của bản kinh cang này

Thú hai: Khái niệm năm là một khái niệm rất quan trọng trong tư duy của người Phương Đông mà rõ ràng nhất người ta thường hình thành lên, gọi ngũ hành…”

Không chỉ có bản kinh, chùa Trúc Lâm hiện còn lưu giữ hai tự khí là những hiện vật gốm đặc biệt quý giá.

261828

Vật thứ nhất là chiếc lư đốt trầm gắn liền với phần đế bên dưới, nhiều chỗ đắp nổi, có minh văn theo phong cách gốm sứ thời Mạc, được cho là tráng men Tam Thái (ngà, trắng và xanh). Minh văn còn ghi rõ chiếc lư được sản xuất vào thời Lê niên hiệu Chính Hòa (1680-1704), là tự khí của chùa Bảo Sơn (phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh). Có thể nó cũng có chung hành trình với bản kinh Kim Cang, tức theo chân các quan binh nhà Nguyễn trên hành trình chinh phạt Tây Sơn, ở phía Bắc, tịch thu mang về triều đình Huế.

Bảo vật thứ 2 và cũng Đặc biệt hơn có lẽ là chiếc bình bát bằng chu sa, được xem là của chúa Nguyễn Phúc Chu dâng tặng hòa thượng Thạch Liêm- Thích Đại Sán, tác giả cuốn sách Hải ngoại ký sự nổi tiếng. Sư ông Đại Sán người Giang Tây (Trung Quốc).Chiếc lư này cũng đã trải qua một cuộc hành trình dài.

Như vậy, trải qua không ít những biến cố, những bảo khí Phật giáo mang nhiều giá trị lịch sử, tâm linh, văn hoá và nghệ thuật dường như đã tìm thấy điểm kết thúc trong cuộc hành trình lưu lạc đầy ly kì tại ngôi chùa Trúc Lâm này. Cuối cùng, không thể quên công lao của người đã có công tìm ra bản kinh quý giá cho …. Sư trưởng Thích Nữ Diệu Không.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s